- 2-1 GIỚI THIỆU
- 2-2 CÁC TÀI LIỆU ĐÃ CÔNG BỐ
- 2-3 PHƯƠNG PHÁP DỮ LIỆU VIỄN THÁM
- 2-4 PHƯƠNG PHÁP ĐỊA VẬT LÝ
- 2-5 PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT ĐẤT VÀ ĐÁ
- 2-6 LẤY MẪU
- 2-7 CÁC THÍ NGHIỆM XUYÊN
- 2-8 QUAN TRẮC NƯỚC DƯỚI ĐẤT
- 2-9 ĐO ĐẠC ĐẶC TÍNH ĐẤT VÀ ĐÁ TẠI CHỖ
- 2-10 QUAN TRẮC VÀ THIẾT BỊ QUAN TRẮC HIỆN TRƯỜNG
- 2-11 TÀI LIỆU ĐỌC THÊM
- 2-12 KÝ HIỆU
2-1 GIỚI THIỆU
2-1.1 Phạm vi
Chương này trình bày thông tin về các phương pháp khảo sát bao gồm sử dụng bản đồ địa chất, ảnh chụp trên không, và viễn thám; các phương pháp địa vật lý; hố khoan thí nghiệm và hố đào thí nghiệm, và các thí nghiệm sức kháng xuyên. Chương này cũng trình bày thông tin về các phương pháp khoan và lấy mẫu, đo mực nước ngầm, đo các đặc trưng tại chỗ của đất và đá, lựa chọn thiết bị quan trắc hiện trường và thiết bị theo dõi ứng xử địa kỹ thuật.
2-1.2 Lập kế hoạch khảo sát hiện trường
Giai đoạn đầu của công tác khảo sát hiện trường nên bắt đầu bằng việc đánh giá kỹ lưỡng nhu cầu dữ liệu cho dự án cụ thể, giúp xác định mục tiêu của công tác khảo sát hiện trường tiếp theo. Trước khi triển khai ra hiện trường, cần tìm kiếm các thông tin sẵn có, tương đối ít tốn kém và thường rất có giá trị. Trong trường hợp dự án mới nằm liền kề với một dự án hiện hữu (ví dụ: mở rộng đường cao tốc, mở rộng ngang một tuyến đê hiện hữu, v.v.), công tác nghiên cứu ban đầu nên tập trung vào các thông tin và dữ liệu đã được thu thập và/hoặc tổng hợp trước đó cho dự án. Đối với một dự án mới, công tác ban đầu nên bao gồm việc rà soát chi tiết các điều kiện địa chất tại công trường và trong khu vực nơi công trường tọa lạc. Sau đó nên tiến hành một nghiên cứu “trên bàn giấy” (desk top study), sử dụng các nguồn dữ liệu sẵn có, bao gồm ảnh chụp trên không lịch sử và hiện tại, ảnh viễn thám, và (khi có thể) khảo sát trinh sát hiện trường. Thông tin tổng hợp thu được từ các hoạt động này nên được dùng làm cơ sở định hướng cho việc lập kế hoạch khảo sát hiện trường cụ thể của dự án.
Trong phạm vi có thể theo yêu cầu dữ liệu của dự án, các hố khoan thí nghiệm riêng lẻ nên được bổ sung bằng các kỹ thuật khảo sát chi phí thấp hơn, bao gồm hố đào thí nghiệm, thí nghiệm xuyên thăm dò (test probes), và khảo sát địa vật lý. Điều này đặc biệt đúng đối với các công trường ở xa, công trường có sự biến động lớn về điều kiện dưới mặt đất, các dự án chiếm diện tích lớn, các dự án dạng tuyến (ví dụ: đường bộ, đường ống, v.v.), và các dự án trong môi trường ngoài khơi nơi việc huy động thiết bị (mobilizations) và khoan thí nghiệm có thể rất tốn kém.
Công tác khảo sát dự án thường gồm ba giai đoạn riêng biệt: (1) khảo sát trinh sát/khả thi (reconnaissance/feasibility exploration); (2) khảo sát sơ bộ (preliminary exploration); và (3) khảo sát chi tiết/cuối cùng (detailed/final exploration). Các giai đoạn này thường có mục tiêu khác nhau. Có thể mong muốn và/hoặc yêu cầu thêm một giai đoạn khảo sát thứ tư, bao gồm việc lấy mẫu bổ sung và/hoặc thí nghiệm in situ, trong hoặc sau khi thi công để xác nhận lại điều kiện nền đất. Thông thường (và phổ biến nhất đối với các dự án tương đối nhỏ), ba giai đoạn này được gộp chung thành một đợt khảo sát duy nhất.
Khảo sát trinh sát bao gồm việc rà soát các thông tin sẵn có về địa hình, địa chất, và địa chất thủy văn; ảnh chụp trên không; dữ liệu từ các dự án khảo sát trước đó; và một chuyến khảo sát thực địa. Các phương pháp địa vật lý có thể hữu ích trong nhiều trường hợp, đặc biệt đối với các dự án lớn có điều kiện dưới mặt đất biến động và đối với các dự án dạng tuyến (ví dụ: đê, đường cao tốc, v.v.). Khảo sát trinh sát/khả thi thường phát hiện được các khó khăn có thể gặp phải trong các giai đoạn khảo sát sau, đồng thời hỗ trợ xác định loại, số lượng và vị trí của các hố khoan cần thiết. Các ví dụ về thông tin có thể thu được từ hoạt động khảo sát trinh sát thực địa được trình bày trong Bảng 2-1.
Bảng 2-1. Các nội dung có thể đánh giá trong quá trình khảo sát trinh sát hiện trường (NCHRP 2018 và FHWA 2002)
| Hạng mục | Nội dung cần ghi nhận | Nhận xét |
|---|---|---|
| Lối tiếp cận | Đánh giá khả năng tiếp cận theo một trong các mức sau: (1) dễ dàng, (2) tiếp cận được bằng xe dẫn động bốn bánh, (3) cần máy ủi và san gạt, và (4) không thể tiếp cận. | Việc đánh giá khả năng tiếp cận giúp xác định các loại thiết bị sẽ cần sử dụng. |
| Công trình tiện ích | Đường dây trên không hiện hữu, tuyến ống khí đã được đánh dấu, hố ga, cửa xả cống và trạm điện. | Thông tin về công trình tiện ích giúp lựa chọn vị trí thích hợp cho thí nghiệm in situ, khoan và lấy mẫu. |
| Đất bề mặt | Sự hiện diện của vật liệu đắp, mảnh vụn, chất ô nhiễm, mất ổn định mái dốc, trương nở, lún sụt và xói lở. | Việc đánh giá đất bề mặt có thể cho thấy dấu hiệu của bãi chôn lấp bị bỏ hoang, trượt lở cũ, ô nhiễm, lún sụt và ngập lụt. |
| Vật liệu dưới bề mặt nông | Phân loại trực quan đất và đá, cuội rời, tảng đá, khối lộ đá, cấu trúc khe nứt đá, đứt gãy, mặt bất liên tục, phong hóa, mặt yếu, sườn tích đá vụn, các đặc trưng karst. | Các vật liệu dưới bề mặt có thể cung cấp dấu hiệu về lún sụt, hoạt động trượt lở, đất đá không ổn định và địa tầng. |
| Thoát nước bề mặt | Đầm lầy, ao, hồ, suối và sông. | Thông tin về thoát nước bề mặt cho biết dấu hiệu về độ sâu mực nước ngầm, hệ số thấm của vật liệu bên dưới và khả năng ngập lụt. |
| Thoát nước dưới bề mặt | Các tầng chứa nước chính, giếng nước và việc bơm nước từ các giếng sâu. | Thông tin về thoát nước dưới bề mặt cho biết dấu hiệu về mực nước ngầm, các mạch lộ nước tự nhiên và khả năng tồn tại điều kiện áp lực nước ngầm artesian. |
| Địa hình | Xếp loại địa hình theo các mức: (1) bằng phẳng, (2) dốc, (3) lồi lõm, (4) đồi thoải, và (5) núi. | Việc đánh giá địa hình giúp lựa chọn thiết bị khảo sát và thi công phù hợp, đánh giá nhu cầu khảo sát ổn định mái dốc và xác định khả năng tiếp cận công trường. |
| Khảo sát trước đây | Các hố đào khảo sát, lỗ khoan, lỗ lấy lõi và các hoạt động nổ mìn trước đây. | Các khảo sát trước đây có thể cung cấp thông tin về địa tầng, các loại đất đá và mực nước ngầm. |
Khảo sát sơ bộ có thể bao gồm các hố khoan và/hoặc thí nghiệm xuyên thăm dò (penetration soundings) để xác định các đặc điểm cụ thể (ví dụ: mặt đá gốc, v.v.) và/hoặc để lấy mẫu. Các mẫu thu được thường chỉ được dùng cho thí nghiệm chỉ tiêu (index testing). Kết quả thí nghiệm xuyên thăm dò thường được dùng để hỗ trợ xác định vị trí các lớp đất hoặc thành tạo địa chất nơi sẽ tiến hành các hoạt động khảo sát chi tiết.
Giai đoạn khảo sát chi tiết thường bao gồm khoan dưới mặt đất, lấy mẫu nguyên trạng và mẫu xáo trộn để thí nghiệm trong phòng, thí nghiệm sức kháng xuyên tiêu chuẩn (standard penetration resistance), thí nghiệm xuyên tĩnh (cone penetration test) và các phép đo in situ khác. Tại các vị trí quan trọng, giai đoạn này cũng có thể bao gồm hố đào thí nghiệm, lắp đặt và đo áp kế nước lỗ rỗng (piezometer), thí nghiệm bơm hút nước (pumping tests), v.v. Sau khi hoàn thành giai đoạn này và các thí nghiệm liên quan, điều kiện công trường và đặc trưng đất/đá cần được nắm rõ đầy đủ để phục vụ thiết kế dự án.
Nên tiến hành quan trắc công trường hoặc công trình trong suốt các giai đoạn thi công và sau thi công. Có thể cần lắp đặt thiết bị quan trắc ứng xử công trình (ví dụ: áp kế nước lỗ rỗng và/hoặc bàn đo lún để đánh giá quá trình cố kết trong quá trình gia tải theo giai đoạn). Trong một số trường hợp, có thể cần đánh giá bổ sung điều kiện nền móng trong giai đoạn thi công. Điều này đặc biệt đúng khi điều kiện nền móng có khả năng biến động lớn trên toàn công trường (ví dụ: khi sử dụng móng sâu cho các công trường nằm trên nền karst).
2-2 CÁC TÀI LIỆU ĐÃ CÔNG BỐ
Khi bắt đầu một cuộc khảo sát, bước đầu tiên là xác định các nguồn thông tin sẵn có và phù hợp. Nói chung, các thông tin này đến từ hai nguồn: (1) các cuộc khảo sát trước đây; và (2) các tài liệu đã công bố thuộc phạm vi công khai.
2-2.1 Các cuộc khảo sát trước đây
Đối với các nghiên cứu tại khu vực đã phát triển, điều kiện dưới bề mặt và các khuyến nghị móng được lựa chọn có thể thu thập được từ các công việc trước đó của các dự án lân cận. Dữ liệu đặc thù công trình thu được trước đây có thể đã lỗi thời; và mặc dù địa chất nền bên dưới không thay đổi, các thông tin đặc thù công trình có thể đã bị thay thế bởi các hoạt động gần đây. Ví dụ, các khu vực bờ sông/bờ biển công nghiệp hóa gần các thành phố lớn có thể trải qua các chu kỳ mở rộng và tái thiết, làm cho điều kiện dưới bề mặt thay đổi. Nhiều khi các móng cũ và kết cấu bến cảng cũ vẫn còn bị chôn vùi tại chỗ. Hồ sơ của các công trình xây dựng trước đây có thể chứa thông tin về hố khoan, thí nghiệm hiện trường, điều kiện nước ngầm, và các nguồn gây khó khăn tiềm ẩn hoặc thực tế cho công tác xây dựng. Lưu ý rằng các tài liệu khảo sát từ các sở giao thông vận tải bang (DOT), Cơ quan Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ (USGS), và Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (USEPA) có thể được công bố công khai.
Việc xem xét dữ liệu từ các công việc trước đây cần được quan tâm nhiều nhất trong mọi giai đoạn của khảo sát trinh sát, vì rất có khả năng chúng có liên quan trực tiếp. Ngoài ra, các thông tin này thường có thể thu thập với chi phí tương đối thấp và cho phép nhóm dự án nhanh chóng làm quen với vị trí công trình cũng như các vấn đề đã được ghi nhận liên quan đến địa chất và xây dựng.
2-2.2 Bản đồ địa chất và địa chất thủy văn đã công bố
Dữ liệu về địa chất tự nhiên và địa hình của Hoa Kỳ (và các nước khác) có sẵn trong các bản đồ và báo cáo do các cơ quan chính phủ, trường đại học và các hiệp hội nghề nghiệp phát hành. Một ví dụ về các tài liệu và nguồn thông tin sẵn có được trình bày trong Bảng 2-2. Mặc dù các nguồn này cung cấp rất tốt các thông tin mang tính khu vực và tổng quát, nhưng thông tin từ chúng có thể không hoàn toàn đặc thù cho địa điểm công trình. Tuy nhiên, các thông tin này thường có thể được dùng để xác định những khoảng trống dữ liệu cụ thể cần được xử lý trong các giai đoạn tiếp theo.
2-3 PHƯƠNG PHÁP DỮ LIỆU VIỄN THÁM
2-3.1 Nguồn dữ liệu
Ảnh chụp trên không là một dạng viễn thám phổ biến, bao gồm cả các ảnh in cũ (tỷ lệ từ 1:12.000 đến 1:80.000) và các ảnh số có độ phân giải khá cao đối với phần lớn Hoa Kỳ (tỷ lệ 1:1000 hoặc tốt hơn). Một số khu vực có nguồn ảnh lịch sử phong phú, có thể có từ trước khi địa điểm hiện tại được phát triển. Ảnh có ích cho việc thành lập bản đồ địa hình và/hoặc địa chất, đồng thời giúp nhận diện dạng thoát nước, vị trí các công trình hiện hữu, thảm thực vật, tuyến tiếp cận và các vị trí dự kiến khảo sát. Viễn thám cũng bao gồm các bộ dữ liệu không phải ảnh chụp, từ đó có thể thu được các dữ liệu như sự phát triển của thảm thực vật, nguồn nước, v.v. Bảng 2-3 tóm tắt các nguồn và loại dữ liệu viễn thám đã được các kỹ sư địa kỹ thuật sử dụng trong lịch sử (tức là trước năm 2019). Các công nghệ được nêu trong Bảng 2-3 nhìn chung đòi hỏi phải mua ảnh từ các đơn vị tạo ra ảnh.
Bảng 2-4 cung cấp tóm tắt về các công nghệ viễn thám mới hơn. Dữ liệu từ một số nguồn trong đó được cung cấp miễn phí cho người dùng và thường có sẵn trên internet. Dữ liệu từ công nghệ viễn thám có thể được tích hợp vào quá trình phát triển các nền tảng thực tế tăng cường (AR), cho phép tạo ra một trải nghiệm tương tác, trong đó các đối tượng được chồng ghép lên môi trường thực mà người dùng nhìn thấy. Điều này đòi hỏi thông tin do máy tính tạo ra phải được trình bày trong môi trường không gian địa lý thông qua việc sử dụng các loại kính và thiết bị đội đầu chuyên dụng.
2-3.2 Ứng dụng
Viễn thám là một nguồn tư liệu đã được các kỹ sư địa kỹ thuật sử dụng rộng rãi. Sự xuất hiện của các công cụ lập bản đồ dựa trên internet, kết hợp với khả năng dựng mặt cắt bằng hệ thống thông tin địa lý (GIS), hiện đã vượt xa năng lực và chức năng của các công cụ trước đây.
Bảng 2-2. Nguồn thông tin địa tầng sẵn có (theo NCHRP 2018, FHWA 2002 và FHWA 2016)
| Loại tài liệu | Nguồn thông tin | Loại thông tin sẵn có | Nhận xét |
|---|---|---|---|
| Bản đồ địa hình | USGS và các cơ quan khảo sát địa chất của bang | Địa hình khu vực, các đặc điểm tự nhiên, và bản đồ chỉ số của khu vực công trình | Bản đồ có thể được dùng để đánh giá khả năng tiếp cận của thiết bị hiện trường và nhận diện các khu vực có nguy cơ mất ổn định mái dốc. |
| Báo cáo điều tra đất | Cơ quan Bảo tồn Tài nguyên Thiên nhiên Quốc gia, Khảo sát đất Web, và các cơ quan bảo tồn đất địa phương | Phân loại đất theo AASHTO và USCS, độ ẩm, giới hạn Atterberg, hàm lượng hữu cơ, các tính chất hóa học (ví dụ pH), tính thấm của đất, khí hậu, địa tầng và mực nước ngầm | Thông tin sẵn có chủ yếu cho độ sâu nông (6 ft hoặc nhỏ hơn) và hữu ích để nhận diện các loại đất bề mặt có vấn đề (ví dụ: đất có xu hướng trương nở và co ngót) hoặc xác định các nguồn vật liệu mượn tiềm năng. |
| Bản đồ và báo cáo địa chất, bao gồm bản đồ hố sụt và karst | USGS và các cơ quan khảo sát địa chất của bang | Các thành tạo đất và đá (loại đá, khe nứt, góc phương và góc dốc xấp xỉ, v.v.), chế độ dòng chảy nước ngầm, và đường đồng mức đá gốc, từ đó có thể ước tính sơ bộ độ sâu đá gốc và các nguy cơ địa chất tiềm ẩn | Các tài liệu này có thể được dùng để nhận diện các khu vực có nguy cơ hố sụt, trượt lở, lún sụt và các hiểm họa khác. |
| Ảnh chụp trên không | Các trang lập bản đồ trên internet, Chương trình Ảnh nông nghiệp Quốc gia (NAIP), và các công ty khảo sát ảnh hàng không | Các công trình nhân tạo, thông tin địa chất và địa chất thủy văn, hiện trạng và lịch sử sử dụng đất, các nguồn vật liệu mượn, và các nguy cơ địa chất cũng như nguy cơ nhân tạo tiềm ẩn | Ảnh chụp có thể theo dõi sự thay đổi của hiện trường theo thời gian để nhận diện các vấn đề tiềm ẩn do sử dụng đất trong quá khứ hoặc do các sự kiện địa chất, bao gồm cả trượt lở. |
| Bản đồ thủy văn, bản đồ giếng và nhật ký giếng | USGS, các cơ quan tài nguyên thiên nhiên của bang và các cơ quan điều tra đất | Các đặc trưng địa chất thủy văn (ví dụ: mạch lộ nước), các nguy cơ liên quan đến nước ngầm, địa tầng, và độ sâu mực nước ngầm | Bản đồ và nhật ký giếng có thể hữu ích để đánh giá nhu cầu hạ mực nước phục vụ thi công và kiểm soát nước ngầm lâu dài. |
| Bản đồ công trình tiện ích | Các công ty tiện ích và cơ quan chính quyền địa phương | Vị trí các công trình tiện ích chôn ngầm | Rất hữu ích để xác định vị trí phù hợp cho thí nghiệm in situ, khoan, lấy mẫu, đồng thời hỗ trợ lập tuyến tiếp cận cho thiết bị. |
| Bản đồ bảo hiểm lũ | FEMA, USACE, USGS, và các cơ quan chính quyền bang và địa phương | Vùng ngập lũ chu kỳ 100 năm và 500 năm, dữ liệu phục vụ đánh giá tiềm năng xói | Thông tin này có thể được dùng để bảo đảm khu đất không nằm trong vùng ngập lũ chu kỳ 100 năm và 500 năm. |
| Bản đồ bảo hiểm cháy Sanborn | Thư viện Quốc hội, thư viện bang và đại học, và Công ty Sanborn | Các nguy cơ môi trường và lịch sử sử dụng đất | Bản đồ Sanborn có sẵn cho các khu vực đô thị. |
| Các cơ quan: United States Geological Service (USGS), American Association of State Highway and Transportation Officials (AASHTO), Unified Soil Classification System (USCS), Federal Emergency Management Agency (FEMA), United States Army Corps of Engineers (USACE) | |||
\(\\\)
Bảng 2-3. Các nguồn dữ liệu viễn thám lịch sử
| Loại | Mô tả và công dụng chung | Nguồn cung cấp |
|---|---|---|
| Ảnh chụp trên không | Có sẵn ở dạng khung ảnh 9 inch, có phần chồng lắp để quan sát lập thể. Có giá trị nhờ độ phân giải cao; tỷ lệ ảnh sẵn có có thể dao động từ 1:12.000 (hoặc lớn hơn) đến 1:80.000. |
USGS, NCIC, NCRS, USFS, BLM, TVA |
Ảnh vệ tinh có chu kỳ phủ lặp lại 18 ngày trong bốn dải phổ:
|
EROS | |
| Skylab | Ảnh chụp bề mặt Trái Đất chất lượng cao, hữu ích cho quy hoạch vùng, nghiên cứu môi trường và phân tích địa chất. Ảnh phủ một diện tích 100 × 100 dặm hoặc 70 × 70 dặm tùy theo loại máy ảnh được sử dụng. Ảnh được chụp trong giai đoạn 1973–74 và không bao phủ toàn bộ. | EROS |
| NASA | Ảnh chụp trên không đen trắng, ảnh màu hoặc ảnh hồng ngoại giả màu do Chương trình Tài nguyên Trái Đất trên máy bay của NASA thực hiện, với tỷ lệ ảnh từ 1:120.000 đến 1:60.000. Không phải mọi khu vực đều có ảnh phủ. Hữu ích cho công tác quy hoạch, nghiên cứu môi trường và nghiên cứu định hướng theo địa điểm; đồng thời phục vụ đánh giá đứt gãy/lineament (đối với ảnh hồng ngoại màu). | EROS |
| SLAR | Ra đa hàng không nhìn nghiêng (SLAR) là nguồn bổ sung rất có giá trị cho ảnh chụp trong các nghiên cứu vùng, đặc biệt thích hợp ở những khu vực thường xuyên có mây che phủ. Tỷ lệ ảnh dao động từ 1:2.000.000 đến 1:250.000. Đây là loại ảnh tốt nhất để nhận diện các đứt gãy/lineament quy mô vùng. |
NCIC, Goodyear Aerospace Corporation và Motorola, Westinghouse Electric Corp. |
| Ảnh hồng ngoại nhiệt | Ảnh hồng ngoại nhiệt (IR) có thể hữu ích ở những nơi có độ tương phản nhiệt độ đáng kể. Hữu ích cho các dự án chuyên biệt hoặc như một nguồn bổ sung cho các dữ liệu viễn thám khác. Được dùng trong phát hiện đứt gãy ở khu vực phủ phù sa, thăm dò địa nhiệt, xác định vị trí thấm rò, xác định các tầng than bùn gần mặt đất, các vết sẹo uốn khúc bị phủ lấp, và nghiên cứu thất thoát nhiệt. |
Thu nhận khi cần thông qua các đơn vị khảo sát ảnh hàng không. Ảnh cũng có thể có từ HCMM. |
| Các cơ quan: United States Geological Service (USGS), National Information Center (NCIC), National Resources Conservation Service (NCRS), U.S. Forest Service (USFS), U.S. Bureau of Land Management (BLM), Tennessee Valley Authority (TVA), Earth Resources Observation System (EROS), Heat Capacity Mapping Mission (HCMM) thuộc National Space Science Data Center, Goddard Space Flight Center. | ||
\(\\\)
Đối với các địa điểm xây dựng mà thông tin sẵn có còn hạn chế, ảnh chụp trên không hỗ trợ rất nhiều cho việc lập kế hoạch và bố trí một chương trình khoan khảo sát phù hợp, và hiện nay có thể được xem là một yêu cầu tối thiểu đối với các dự án. Đối với các nghiên cứu kỹ thuật quy mô lớn, bao gồm công trình đường bộ và sân bay, việc trực quan hóa ba chiều (3D) có thể mang lại nhiều lợi ích. Người dùng cá nhân có thể xây dựng các tệp mô hình địa hình số (DTM) từ dữ liệu UAV, và các công ty thương mại cũng có thể phát triển mô hình địa hình 3D cục bộ một cách kinh tế bằng cách sử dụng UAV.
Bảng 2-4. Các nguồn dữ liệu viễn thám hiện nay
| Loại | Mô tả và công dụng chung | Nguồn cung cấp |
|---|---|---|
| Ảnh chụp trên không | Bản đồ ảnh hàng không hiện đại và lịch sử (bao gồm địa hình gần đúng) cho phần lớn Hoa Kỳ. Nói chung, độ phân giải rất tốt ở tỷ lệ nhỏ hơn 1:1000. Rất hữu ích để quan sát địa hình khu vực và địa hình chi tiết tại vị trí công trình, đường sá và các yếu tố thoát nước. Ở nhiều khu vực, có thể thu được ảnh 3D kiểu “street view” tương đối mới để mô tả các quan sát từ mặt đất. | Có nhiều công cụ bản đồ trên internet, trong đó một số cơ sở dữ liệu được cập nhật hằng quý. Phần lớn ảnh thường có tuổi đời dưới 3 năm. |
| LIDAR | Công nghệ phát hiện và đo khoảng cách bằng ánh sáng (LIDAR) sử dụng chùm tia laser xung, tín hiệu phản xạ trở lại cảm biến để ghi nhận khoảng cách. Nguồn phát tín hiệu thường được bố trí trên một phương tiện chuyển động, và dữ liệu thu được có thể dùng để tạo ảnh địa hình 3D. | Thường được các nhà cung cấp thương mại cung cấp như một dịch vụ chuyên biệt do chi phí thiết bị và xử lý cao. |
| SAR | Ra đa khẩu độ tổng hợp (SAR) là một dạng phát triển của SLAR, sử dụng sóng vô tuyến từ một nền mang đang chuyển động. Dữ liệu có thể được dùng để tạo ảnh 2D và 3D độ phân giải cao; khẩu độ càng lớn (hoặc ăng-ten càng lớn) thì độ phân giải càng cao. | Được cung cấp bởi các nhà cung cấp thương mại với thiết bị điện tử chuyên dụng để thu thập và xử lý dữ liệu. Trong tương lai, ảnh có thể được phổ biến cho công chúng với chi phí hợp lý. |
| UAV | Phương tiện bay không người lái (UAV) hoặc drone ngày càng hữu ích cho ảnh hàng không phục vụ dự án. UAV có thể mang camera số, camera hồng ngoại và các cảm biến khác. Có thể đạt được độ phân giải rất cao. Các lượt bay chồng phủ cho phép tạo ảnh 3D và mô hình địa hình. Đây là nguồn tư liệu rất tốt để theo dõi tiến độ thi công. | Thiết bị hiện có sẵn với chi phí thấp cho người dùng cá nhân. Các dịch vụ thương mại cũng được cung cấp rộng rãi. |
\(\\\)
Việc giải đoán thông tin từ ảnh chụp trên không và các dữ liệu viễn thám khác đòi hỏi kinh nghiệm và kỹ năng. Quá trình giải đoán, khi kết hợp với các thông tin khác từ các tài liệu tham khảo đã công bố, thường giúp xác định những đặc trưng nào có thể hiện diện tại khu vực công trình. Kiểm tra đối chiếu tại hiện trường là một yếu tố thiết yếu trong việc giải đoán các đặc trưng địa chất từ ảnh chụp trên không. Ảnh chụp trên không đặc biệt hữu ích khi đánh giá những điểm tương đồng và khác biệt giữa các khu vực. Việc sử dụng các ảnh này tại các khu vực đô thị hóa và đã phát triển bị hạn chế về giá trị cung cấp thông tin định lượng dưới bề mặt. Cũng như đối với mọi loại ảnh hàng không, चाहे là ảnh chụp hay dữ liệu viễn thám, thảm thực vật và mây có thể che khuất địa hình bên dưới. Gần đây, các kỹ thuật tăng cường ảnh đa phổ bằng máy tính đã làm cho dữ liệu LANDSAT trở nên tương thích với ảnh chụp trên không thông thường.
2-4 PHƯƠNG PHÁP ĐỊA VẬT LÝ
2-4.1 Ứng dụng và phạm vi áp dụng
Ngày càng thường xuyên hơn, các khảo sát địa vật lý được sử dụng để ước tính điều kiện dưới bề mặt nhờ sự cải thiện của các kỹ thuật giải đoán và sự chấp nhận ngày càng rộng rãi trong cộng đồng chuyên môn đối với các kỹ thuật đặc trưng hóa địa vật lý. Bảng 2-5 trình bày tóm tắt các kỹ thuật thí nghiệm địa vật lý thông dụng và các mục tiêu/đặc trưng có thể thu được từ các kỹ thuật này. Thông tin liên quan đến việc lựa chọn các kỹ thuật thí nghiệm địa vật lý bề mặt thích hợp cũng được trình bày trong ASTM D6429.
Các phương pháp địa vật lý đặc biệt phù hợp khi khảo sát các khu vực tương đối lớn và/hoặc các công trình tuyến, bao gồm đập, hồ chứa, đường hầm, đường bộ, và các nhóm công trình quy mô lớn. Có sẵn các kỹ thuật cho cả khảo sát trên bờ và ngoài khơi. Địa vật lý đã được sử dụng để xác định các mỏ vật liệu cấp phối và nguồn vật liệu xây dựng khác, đặc biệt đối với các vật liệu phân lớp, nơi các tính chất khác biệt đáng kể so với các lớp đất/đá kề cận. Như trình bày trong Bảng 2-5, nhiều phương pháp thí nghiệm địa vật lý hữu ích trong việc nhận diện các tầng địa chất dưới bề mặt khác nhau và các bất thường trong lòng đất.
Bảng 2-5. Các phương pháp địa vật lý bề mặt và mục tiêu khảo sát
(theo NCHRP 2018, Fenning và Hasan 1995, USACE 1995a, Sirles 2006, FHWA 2006, và Anderson cùng cộng sự 2008)
| Thông tin thu được | Địa chấn | Điện và điện từ | Trường thế | |||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Khúc xạ và phản xạ | Sóng bề mặt | Điện trở suất | Điện từ | Ra đa xuyên đất | Vi trọng lực | Từ kế | Thế tự phát | |
| Thạch học và địa tầng | ✓ | ✓ | ✓ | ✓ | ✓ | |||
| Địa hình đá gốc | ✓ | ✓ | ✓ | ✓ | ✓ | ✓ | ✓ | |
| Mực nước ngầm | ✓ | ✓ | ✓ | |||||
| Khả năng đào bằng ripper của đá | ✓ | |||||||
| Biểu đồ phân bố vận tốc sóng cắt | ✓ | |||||||
| Phát hiện đứt gãy | ✓ | ✓ | ✓ | ✓ | ✓ | |||
| Phát hiện lỗ rỗng và hốc | ✓ | ✓ | ✓ | ✓ | ✓ | ✓ | ||
| Dòng chảy chất lưu dưới bề mặt | ✓ | ✓ | ||||||
| Dị thường vật liệu chứa sắt | ✓ | ✓ | ✓ | |||||
| Dị thường dẫn điện | ✓ | ✓ | ✓ | ✓ | ||||
| Khả năng ăn mòn | ✓ | |||||||
\(\\\)
2-4.2 Ưu điểm và hạn chế
Khác với hố khoan, các khảo sát địa vật lý cho phép khảo sát nhanh và kinh tế trên phạm vi rộng. Do chúng đánh giá điều kiện trên một khu vực lớn, nên kết quả phản ánh điều kiện trung bình theo diện hơn là kết quả tại một vị trí cụ thể như có thể thu được từ một loạt hố khoan thẳng đứng. Thí nghiệm địa vật lý đặc biệt có lợi trong các điều kiện địa chất thể hiện sự tương phản rõ rệt giữa các lớp kề nhau (ví dụ: đá nằm dưới đất, mặt tiếp xúc giữa đá cứng và đá mềm, các lỗ rỗng chứa nước hoặc không khí trong đất hoặc đá, v.v.). Thí nghiệm địa vật lý thường có thể phát hiện các bất thường của bề mặt đá gốc và mặt tiếp xúc giữa đất và đá gốc, và có thể đặc biệt hữu ích trong địa hình karst.
Khảo sát địa vật lý thường có thể phân biệt ranh giới giữa các lớp, nhưng phần lớn các phương pháp chỉ có thể chỉ ra xấp xỉ các tính chất của đất. Những tính chất “xấp xỉ” này cần được xem là giá trị trung bình trong phạm vi dưới bề mặt, vì nói chung không thể phân định chính xác các tính chất riêng biệt của từng lớp địa tầng cụ thể.
Việc giải đoán kết quả thí nghiệm địa vật lý thường khó và mang tính chủ quan, phụ thuộc vào kinh nghiệm của người thực hiện hoặc người phân tích. Trong nhiều trường hợp, không có các tiêu chí rõ ràng để giải đoán các kỹ thuật thí nghiệm địa vật lý. Một số kỹ thuật có tính chuyên sâu cao, và hầu như mọi kỹ thuật đều đòi hỏi người vận hành và người giải đoán có kinh nghiệm cho từng ứng dụng cụ thể. Rất nên thực hiện đối chiếu cục bộ giữa điều kiện “đã giải đoán” và điều kiện “thực tế” cho từng vị trí bằng các phương pháp khoan. Nên sử dụng các kỹ thuật đã từng thành công trước đây và người giải đoán có kinh nghiệm.
Sự khác biệt về mức độ bão hòa, sự hiện diện của các muối khoáng trong nước ngầm, hoặc sự tương đồng giữa các lớp đất ảnh hưởng đến sự truyền sóng địa chấn có thể dẫn đến các kết luận mơ hồ hoặc thiếu chính xác. Mặc dù có các hạn chế này, thí nghiệm địa vật lý vẫn được kỳ vọng sẽ ngày càng được sử dụng và chấp nhận rộng rãi hơn trong tương lai. Tham khảo thêm và phần thảo luận mở rộng có thể tìm thấy trong FHWA (2003) và NCHRP (2018).
2-5 PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT ĐẤT VÀ ĐÁ
Hố khoan khảo sát đất là phương pháp được sử dụng phổ biến nhất để khảo sát đất dưới bề mặt ngoài hiện trường. Chúng cho phép thiết lập mặt cắt thẳng đứng của đất tại một vị trí cụ thể và thu thập mẫu tại các khoảng sâu chọn lọc ở các vị trí xác định. Kỹ thuật khoan và lấy lõi đá có tính chuyên biệt hơn so với các kỹ thuật dùng cho đất và được sử dụng ít thường xuyên hơn.
2-5.1 Phương pháp khoan và tạo lỗ khoan
Trong lịch sử, phần lớn các lỗ khoan địa kỹ thuật trong đất sử dụng hoặc là mũi khoan ruột rỗng (hollow-stem auger) hoặc là kỹ thuật khoan rửa xoay (rotary wash), với nhiều biến thể công nghệ hiện có. Những tiến bộ gần đây đang ngày càng trở nên phổ biến và được chấp nhận, bao gồm việc sử dụng kỹ thuật khoan ấn trực tiếp (direct-push) và khoan siêu âm/sonic. Bảng 2-6 chỉ ra phạm vi áp dụng của các phương pháp tạo lỗ khoan trong đất khác nhau. Bảng 2-7 cung cấp thông tin tương tự cho đá.
Thiết bị khoan dùng trong khảo sát địa kỹ thuật được lựa chọn dựa trên sự kết hợp của: (1) điều kiện nền tại hiện trường (tức là đất mềm, địa hình dốc, trên mặt nước, v.v.); và (2) loại phương pháp khoan được chọn (tức là khoan guồng xoắn, khoan xoay, khoan đập, v.v.). Bảng 2-8 trình bày tóm tắt các loại thiết bị khoan khác nhau và phạm vi ứng dụng của chúng. Hình 2-1 trình bày sơ đồ của các phương pháp khoan khác nhau.
Bảng 2-6: Các phương pháp khoan tạo lỗ thăm dò trong đất (NCHRP 2018 và Day 1999)
| Phương pháp | Quy trình | Ứng dụng | Hạn chế / Ghi chú |
|---|---|---|---|
|
Khoan guồng xoắn (ASTM D1452) |
Lỗ khoan khô được tạo bằng guồng xoắn vận hành bằng tay hoặc bằng máy; mẫu được thu hồi từ cánh guồng khoan. | Nhận diện các đơn vị địa chất và hàm lượng nước phía trên mực nước ngầm trong đất và đá mềm. | Cấu trúc phân lớp bị phá hủy; mẫu bị trộn với nước bên dưới mực nước ngầm. |
| Khoan guồng xoắn ruột rỗng | Lỗ khoan được tạo bằng guồng xoắn ruột rỗng; đất được lấy mẫu khi guồng vẫn để nguyên tại chỗ. | Thường dùng trong các loại đất mà nếu khoan thông thường sẽ cần chống ống để duy trì lỗ khoan mở phục vụ lấy mẫu. | Mẫu bị hạn chế khi gặp sỏi lớn; khó duy trì cân bằng thủy tĩnh trong lỗ khoan bên dưới mực nước ngầm. |
| Khoan rửa | Chặt nhẹ và phun rửa mạnh đất; mùn khoan được cuốn đi bởi dung dịch tuần hoàn và xả vào hố lắng. | Vật liệu dính từ mềm đến cứng và nhiều loại đất rời. | Vật liệu hạt thô có xu hướng lắng xuống đáy lỗ khoan; không nên dùng cho các lỗ khoan phía trên mực nước ngầm khi cần mẫu nguyên trạng. |
| Thí nghiệm xuyên búa Becker (BPT) | Lỗ khoan được tạo bằng búa diesel tác động kép để đóng ống vách thành kép đường kính 168 mm xuống đất. | Thường dùng trong đất có sỏi và cuội; dùng ống vách đầu hở khi cần lấy mẫu vật liệu. | Khó xét đến ma sát thành ống vách; độ lặp lại của thí nghiệm chưa rõ ràng. |
| Khoan gầu | Gầu khoan đường kính 600 đến 1200 mm có răng cắt được quay và hạ xuống; sau đó gầu được kéo lên và đổ đất ra trên mặt đất. | Hầu hết các loại đất phía trên mực nước ngầm; có thể xuyên qua các lớp đất cứng hơn lớp đất phía trên; có thể xuyên qua đất có cuội và tảng nếu được trang bị gầu khoan đá. | Không áp dụng cho cát chảy; dùng để thu được khối lượng mẫu xáo động lớn; cũng dùng để tạo lối tiếp cận vào hố khoan nhằm quan sát. |
| Xuyên ấn trực tiếp | Sử dụng tải trọng tĩnh và lực đập để hạ ống vách đường kính 90 đến 115 mm. | Phần lớn đất dính và đất rời; có thể thu mẫu gần như liên tục. | Mẫu thu hồi nhìn chung là mẫu xáo động. |
| Khoan sonic | Dao động cộng hưởng thẳng đứng tần số cao được truyền vào ống lấy lõi đường kính 75 đến 300 mm; thu được lõi liên tục dài 3,3 m; sau khi lấy mẫu ra, ống lõi ngoài được hạ đến đáy ống lõi trước bằng kỹ thuật tương tự và quy trình được lặp lại. | Áp dụng cho gần như mọi loại đất và nhiều loại đá gốc; cho mặt cắt địa tầng liên tục; áp dụng được cho điều kiện cả trên và dưới mực nước ngầm; quá trình không cần dung dịch khoan. | Không kinh tế đối với đá rất chặt và đá cứng khi cần lấy lõi; mẫu thu hồi là mẫu xáo động. |
\(\\\)
Bảng 2-7. Các phương pháp khoan lấy lõi đá
(NCHRP 2018 và Day 1999)
| Phương pháp | Quy trình | Loại mẫu | Ứng dụng | Hạn chế / Ghi chú |
|---|---|---|---|---|
|
Khoan lấy lõi xoay trong đá (ASTM D2113) |
Ống lõi ngoài gắn mũi khoan kim cương (hoặc hợp kim cứng tungsten carbide) quay để cắt tạo lỗ vành khuyên trong đá; lõi được bảo vệ bởi ống lõi trong đứng yên; mùn khoan được cuốn ra bằng dung dịch khoan. | Lõi đá hình trụ đường kính đến 100 mm và dài đến 3 m, tùy điều kiện đá; kích thước tiêu chuẩn là đường kính 54 mm. | Thu hồi lõi liên tục trong đá lành (tỷ lệ thu hồi lõi phụ thuộc vào mức độ nứt nẻ, tính biến đổi của đá, thiết bị và tay nghề thợ khoan). | Bị mất lõi trong đá nứt nẻ hoặc đá biến đổi mạnh; tắc nghẽn làm cản trở khoan trong đá nứt nẻ nhiều; có thể nhận biết góc dốc của lớp và khe nứt nhưng không xác định được phương vị. |
| Khoan lấy lõi xoay trong đá kiểu wire line | Tương tự ASTM D2113, nhưng lõi và ống lõi trong đứng yên được rút ra khỏi ống lõi ngoài bằng thiết bị nâng hoặc “overshot” treo trên cáp mảnh (wire line) đi qua cần khoan đường kính lớn và ống lõi ngoài. | Lõi đá hình trụ đường kính 28 đến 85 mm và dài từ 1,5 đến 3 m. | Thu hồi lõi tốt hơn trong đá nứt nẻ; chu kỳ thu hồi lõi nhanh hơn nhiều và hiệu quả hơn trong các lỗ khoan sâu. | Bị mất lõi trong đá nứt nẻ hoặc đá biến đổi mạnh; tắc nghẽn làm cản trở khoan trong đá nứt nẻ nhiều; có thể nhận biết góc dốc của lớp và khe nứt nhưng không xác định được phương vị. |
| Khoan lấy lõi xoay trong đất sét trương nở, đá mềm | Tương tự khoan lấy lõi xoay trong đá; lõi trương nở được giữ lại bằng ống lót nhựa bên trong thứ ba. | Mẫu hình trụ đất đường kính 28,5 đến 53,2 mm và dài từ 600 đến 1500 mm, được bọc trong ống nhựa. | Dùng cho đất và đá mềm dễ bị phá hủy nhanh khi tiếp xúc với không khí (được bảo vệ bằng ống nhựa). | Mẫu nhỏ; thiết bị phức tạp hơn các kỹ thuật lấy mẫu đất khác. |
| Khoan sonic | Dao động cộng hưởng thẳng đứng tần số cao làm tiến ống lõi đường kính 75 đến 300 mm; thu được lõi liên tục dài 3,3 m. | Mẫu lõi liên tục khi ống lõi ngoài được hạ tiến. | Áp dụng cho phần lớn đá gốc; áp dụng được cho điều kiện cả trên và dưới mực nước ngầm; quá trình không cần dung dịch khoan. | Không kinh tế đối với đá cứng khi cần lấy lõi; lõi đá thu hồi có thể bị xáo động trong đá nứt nẻ, nhưng cho khả năng thu hồi tốt và địa tầng liên tục. |
| Phương pháp khoan đập | Sử dụng mũi khoan đập; mùn khoan được thổi ra bằng khí nén. | Bụi đá và mảnh vụn đá. | Dùng để xác định vị trí đá, các lớp mềm hoặc hốc rỗng trong đá lành; có thể tiến qua các khối tảng. | Mũi khoan có thể bị kẹt do đất ướt. |
\(\\\)
Bảng 2-8. Thiết bị khảo sát đất và đá và phạm vi ứng dụng của chúng
(NCHRP 2018 và Australian Drilling Industry Training Committee 2015)
| Loại thiết bị khoan | Ứng dụng |
|---|---|
| Thiết bị khoan lắp trên xe tải | Khu vực có điều kiện tiếp cận thuận lợi |
| Thiết bị khoan lắp trên xe địa hình | Vị trí có nền đất mềm và địa hình gồ ghề |
| Thiết bị khoan lắp trên bánh xích | Vị trí có nền đầm lầy và đất rất mềm |
| Thiết bị khoan kiểu skid | Vị trí có địa hình dốc |
| Thiết bị khoan wireline | Lấy mẫu đá |
| Thiết bị xuyên ấn trực tiếp thủy lực | Lấy mẫu nhanh, liên tục, sạch hơn (không tạo mùn khoan) |
| Thiết bị khoan sonic | Lấy mẫu liên tục đất và đá |
| Xà lan – loại thường | Khoan trên mặt nước ở vùng nước nông (10 ft [3 m] trở xuống) |
| Sàn nâng jack-up | Khoan trên mặt nước ở vùng nước sâu hơn (đến 40 ft [12 m]) |
\(\\\)

(theo NCHRP 2018 và Mayne 2012)
2-5.1.1 Bố trí và chiều sâu lỗ khoan
Hướng dẫn chung cho việc bố trí lỗ khoan sơ bộ và lỗ khoan cuối cùng (tức là vị trí và số lượng lỗ khoan) cũng như chiều sâu lỗ khoan được trình bày trong Bảng 2-9 theo loại công trình và/hoặc vấn đề cần khảo sát. Phần thảo luận bổ sung về khoảng cách và số lượng lỗ khoan được trình bày trong FHWA (2002). Ngoài loại công trình, việc bố trí và chiều sâu lỗ khoan còn phụ thuộc rất nhiều vào kinh nghiệm trước đây trong khu vực (hoặc tại chính hiện trường) và điều kiện địa chất của khu vực/công trường. Khi dự án nằm trong một khu vực chưa quen thuộc, ít nhất một lỗ khoan nên được khoan sâu vượt xuống dưới phạm vi cần thiết cho sự ổn định biểu kiến, nhằm kiểm tra xem điều kiện hiện trường có phù hợp với địa chất dự kiến hay không, đồng thời bảo đảm rằng không tồn tại các điều kiện bất thường hoặc không lường trước ở độ sâu lớn hơn.
Địa chất công trường là một yếu tố quan trọng trong việc xây dựng phương án bố trí lỗ khoan và cần ảnh hưởng đến cách sắp xếp các lỗ khoan, các mặt cắt địa chất có thể được xem xét trong bối cảnh của thiết kế cuối cùng. Điều này đòi hỏi phải xem xét các bản đồ địa chất của khu vực và tổng hợp thông tin theo một định dạng cho phép thể hiện địa chất, địa hình hiện hữu, mặt bằng công trường hiện tại và vị trí các lỗ khoan ở cùng tỷ lệ trên cùng một hình vẽ/bản vẽ.
Trong những trường hợp cần phân tích chi tiết về độ lún, ổn định mái dốc hoặc thấm, kế hoạch khoan cần bao gồm tối thiểu hai lỗ khoan trong mỗi tầng đất quan trọng để thu được mẫu nguyên dạng (nếu có thể áp dụng). Đối với một số chương trình khảo sát hiện trường, điều này có thể đồng nghĩa với việc cần các lỗ khoan lấy mẫu sơ bộ và/hoặc các thí nghiệm xuyên côn để xác định vị trí và chiều sâu có tính đại diện nhất cho các lỗ khoan lấy mẫu nguyên dạng.
Bảng 2-9. Lựa chọn số lượng, vị trí và chiều sâu khảo sát
(theo NCHRP 2018, FHWA 2002, FHWA 2016, NYDOT 2013 và SCDOT 2010)
| Công trình | Số lượng vị trí khảo sát tối thiểu | Chiều sâu khảo sát tối thiểua |
|---|---|---|
| Cầu – móng nông |
|
|
| Cầu – móng sâu |
|
|
| Kết cấu chắn đất |
|
|
| Đường đắp – nền móng |
|
|
| Đào đường |
|
|
| Áo đường |
|
|
| Cống và ống |
|
|
| Cột, trụ và tháp |
|
|
a B = bề rộng móng và L = chiều dài móng
2-5.1.2 Lấp bỏ hoặc trám kín lỗ khoan
Các lỗ khoan cần được lấp lại. Trong nhiều trường hợp, việc lấp bằng chính mùn khoan là đủ. Tuy nhiên, lỗ khoan phải được trám kín bằng vữa (grout) khi hố khoan được khoan xuống dưới mực nước ngầm, trong mọi trường hợp gặp áp lực nước artesian, và bất cứ khi nào thực hiện lỗ khoan phục vụ môi trường. Trong các trường hợp này, lỗ khoan có thể được để tạm thời chưa lấp để phục vụ quan trắc mực nước sau khi hoàn thành công tác khoan khảo sát hiện trường ban đầu. Đối với các lỗ khoan dùng để quan trắc nước ngầm, cần đặt ống chống tiếp xúc chặt với thành lỗ khoan và khoảng vành khăn giữa ống đứng và thành lỗ khoan phải được lấp bằng cát hoặc sỏi cấp phối thích hợp. Nhiều cơ quan, như USACE và các DOT của bang, có các hướng dẫn riêng về trám kín lỗ khoan, và các yêu cầu này là một phần của chỉ dẫn kỹ thuật dự án. Phần thảo luận chi tiết hơn về khảo sát nước ngầm được trình bày trong Mục 2-8.
2-5.2 Hố đào khảo sát và hào khảo sát
Hố đào khảo sát thường được sử dụng để quan sát và lấy mẫu đất tại chỗ ở độ sâu tương đối nông. Hố đào khảo sát có thể được dùng để xác định độ sâu của nước ngầm nông, chiều dày lớp đất phủ hoặc các lớp trầm tích bề mặt, và/hoặc để đánh giá các điều kiện gần mặt đất. Hố đào khảo sát cũng thường được dùng để xác định nguồn vật liệu xây dựng cho các công trình đất, như đập và nền đắp. Hố đào khảo sát có thể là các hố đào nông bằng tay hoặc, phổ biến hơn, là các hố đào bằng máy.
Hào khảo sát về bản chất là các hố đào khảo sát kéo dài, và đặc biệt hữu ích khi khảo sát trong các trầm tích rất không đồng nhất (ví dụ: vật liệu đắp vụn), nơi hố khoan có thể cho kết quả sai lệch, ít ý nghĩa hoặc không khả thi. Hào khảo sát thường được dùng để phát hiện dấu vết đứt gãy trong các nghiên cứu động đất và để khảo sát điều kiện gần mặt trượt trong các nghiên cứu trượt lở. Cần đặc biệt lưu ý các biện pháp an toàn khi làm việc trong và xung quanh hố đào và hào khảo sát.
Bảng 2-10 đưa ra hướng dẫn về việc sử dụng và các hạn chế của hố đào và hào khảo sát. Mẫu khối cắt bằng tay thường được lấy từ các dạng khảo sát này và có thể cần thiết đối với các loại đất nhạy, đá giòn và đá phong hóa, cũng như các thành tạo đất có cấu trúc tổ ong.
Bảng 2-10 Công dụng và hạn chế của hố đào khảo sát và hào khảo sát
(theo NCHRP 2018)
| Phương pháp khảo sát | Công dụng chung | Khả năng | Hạn chế |
|---|---|---|---|
| Hố đào và giếng khảo sát đào thủ công | Lấy mẫu khối lượng lớn, thí nghiệm in situ, quan sát trực quan. | Cung cấp dữ liệu ở những khu vực khó tiếp cận, gây xáo động cơ học đến nền đất xung quanh ít hơn. | Tốn kém, mất thời gian, chỉ giới hạn ở độ sâu phía trên mực nước ngầm. |
| Hố đào và hào khảo sát bằng máy đào gầu nghịch | Lấy mẫu khối lượng lớn, lấy mẫu khối, thí nghiệm in situ, quan sát trực quan, xác định chiều sâu đến đá gốc và mực nước ngầm. | Nhanh và kinh tế; thông thường sâu dưới 15 ft, có thể đạt tới 30 ft. | Khả năng tiếp cận của thiết bị thường vẫn bị giới hạn; chiều sâu thường chỉ đến phía trên mực nước ngầm; khả năng lấy mẫu nguyên dạng bị hạn chế. |
| Giếng khoan đào | Đào mở trước cho cọc và giếng, khảo sát trượt lở, giếng thoát nước. | Nhanh, kinh tế hơn so với đào thủ công; đường kính nhỏ nhất 30 inch, lớn nhất 6 ft. | Khả năng tiếp cận thiết bị; khó lấy được mẫu nguyên dạng; ống vách có thể che khuất quan sát trực quan. |
| Rãnh đào bằng máy ủi | Đặc trưng đá gốc, chiều sâu đến đá gốc và mực nước ngầm, khả năng đào bằng ripper; dùng kết hợp với máy đào gầu nghịch cho các hố đào sâu hơn; dùng để san tạo mặt bằng cho các thiết bị khảo sát khác. | Chi phí tương đối thấp, tạo bề mặt lộ để lập bản đồ địa chất. | Khảo sát chỉ giới hạn ở độ sâu phía trên mực nước ngầm. |
| Hào khảo sát đứt gãy | Đánh giá sự hiện diện và hoạt động của đứt gãy, và đôi khi cả các đặc trưng trượt lở. | Xác định rõ vị trí đứt gãy, cho phép quan sát dưới bề mặt đến độ sâu 30 ft. | Chi phí cao, tốn thời gian, cần chống đỡ thành hố; chỉ hữu ích khi có vật liệu có thể xác định niên đại; chiều sâu giới hạn ở vùng phía trên mực nước ngầm. Ứng dụng chuyên biệt. |
2-5.3 Các kỹ thuật khảo sát khác
Khi một lỗ khoan đã được tạo trong đất hoặc đá, có thể đưa các thiết bị xuống lỗ vào lỗ khoan mở để thực hiện các phép đo chuyên biệt hoặc làm giá mang cho các thiết bị thí nghiệm địa vật lý. Camera lỗ khoan thường được dùng trong các lỗ khoan mở trong đá để đánh giá địa tầng, cũng như hướng và góc dốc của các lớp. Các thiết bị quan trắc ứng xử địa kỹ thuật (ví dụ: thiết bị đo nghiêng mái dốc, đầu đo áp lực nước, borehole extensometer, v.v.) cũng có thể được lắp đặt trong lỗ khoan đã tạo.
2-6 LẤY MẪU
Việc thu hồi mẫu đại diện của đất và đá dưới mặt đất để phục vụ thí nghiệm có lẽ là mục tiêu phổ biến nhất của các kỹ thuật trình bày trong Mục 2-5. Các mẫu này thường được gọi là mẫu xáo trộn (disturbed) hoặc nguyên trạng (undisturbed), tùy thuộc vào việc mẫu thu được giữ được cấu trúc của vật liệu tại chỗ (in situ) tốt đến mức nào.
Bản thân quá trình lấy đất/đá ra khỏi trạng thái bị khống chế (confined) dưới mặt đất đã gây ra sự xáo trộn nhất định — tức là không có mẫu nào là hoàn toàn “nguyên trạng” tuyệt đối, vì chỉ riêng việc lấy mẫu ra khỏi lòng đất (giải phóng ứng suất, thay đổi điều kiện xung quanh) cũng đã làm mẫu bị xáo trộn phần nào. Vì vậy, tên gọi “mẫu nguyên trạng” (undisturbed sample) thực ra là một cách gọi không chính xác/gây hiểu lầm — vì trên thực tế, mẫu đó chỉ có thể đạt mức xáo trộn tối thiểu, chứ không thể “không bị xáo trộn” theo đúng nghĩa đen.
Chính vì lý do đó, trong ngành kỹ thuật địa kỹ thuật hiện nay, người ta đã dần chuyển sang dùng thuật ngữ “mẫu nguyên khối” (intact sample) thay cho “mẫu nguyên trạng” (undisturbed sample), vì “nguyên khối” phản ánh đúng bản chất hơn — chỉ là mẫu ít bị xáo trộn, chứ không phải mẫu hoàn toàn giữ nguyên trạng thái ban đầu.
Mẫu xáo trộn chủ yếu được dùng cho các thí nghiệm chỉ tiêu cơ lý cơ bản (index tests) phục vụ mục đích phân loại. Mẫu xáo trộn chỉ cần đại diện cho thành phần và độ ẩm của đất, vì cấu trúc đất đã bị xáo trộn. Mẫu nguyên khối được lấy chủ yếu để phục vụ các thí nghiệm cường độ, tính nén lún, và tính thấm trong phòng. Cấu trúc và thành phần in situ ảnh hưởng đáng kể đến cường độ, tính nén lún, và tính thấm (tức là các đặc trưng kỹ thuật) của đất. Phần lớn nội dung thảo luận trong mục này tập trung vào công tác lấy mẫu tại các vị trí trên đất liền hoặc vùng nước nông. Thiết bị lấy mẫu ngoài khơi là loại chuyên dụng và được trình bày riêng trong Mục 2-6.3.
Số lượng và loại mẫu phụ thuộc vào sự phân lớp của nền đất dưới mặt đất, loại vật liệu gặp phải, khối lượng mẫu cần thiết cho thí nghiệm, và mức độ quan trọng của công trình. Đối với hầu hết các dự án, cả mẫu xáo trộn và mẫu nguyên khối đều được lấy để phục vụ thí nghiệm.
2-6.1 Lấy mẫu đất
2-6.1.1 Mẫu Đất Xáo trộn.
Nhìn chung, mẫu xáo trộn đại diện được lấy tại các khoảng cách thẳng đứng không nhỏ hơn 5 feet (~1.5m) và tại mỗi vị trí thay đổi lớp đất. Đôi khi cần thiết hoặc có cơ sở để lấy mẫu liên tục. Trường hợp này có thể xảy ra khi dự kiến có một lớp vật liệu quan trọng tương đối mỏng. Bảng 2-11 liệt kê các loại mẫu xáo trộn và thiết bị lấy mẫu thông dụng. Các quy trình khuyến nghị để lấy mẫu xáo trộn được trình bày trong ASTM D1586. Ống mẫu chẻ đôi (split barrel, còn gọi là split spoon), minh họa trong Hình 2-2, là loại thiết bị lấy mẫu được sử dụng phổ biến nhất.
Bảng 2-11. Thiết bị Lấy Mẫu Đất Xáo trộn
| Thiết bị Lấy mẫu (Phương pháp Xuyên) | Kích thước Điển hình | Loại Đất Cho Kết quả Tốt nhất | Nguyên nhân Thu hồi Thấp | Ghi chú |
|---|---|---|---|---|
| Ống mẫu chẻ đôi (Split Barrel) (Đóng bằng búa 140 lb) | Đường kính ngoài (OD) 2,0 inch, đường kính trong (ID) 1,375 inch | Tất cả các loại đất mịn hơn cỡ hạt cuội sỏi; cuội sỏi làm sai lệch số liệu đóng; có thể dùng vòng giữ mẫu (retainer) đối với đất hạt thô | Hạt cuội sỏi trở lên | Thí nghiệm Xuyên Tiêu chuẩn (SPT) được thực hiện bằng búa và ống mẫu này; mẫu bị xáo trộn rất mạnh |
| Khoan guồng xoắn liên tục (Continuous Helical-flight Auger) (Xoay) | Đường kính 3 đến 16 inch; có thể xuyên đến độ sâu trên 50 ft | Hầu hết các loại đất trên mực nước ngầm; không xuyên được đất cứng hoặc đất chứa cuội, tảng đá | Đất cứng, cuội, tảng đá | Phương pháp xác định mặt cắt đất; có thể lấy mẫu túi (bag samples); log và độ sâu lấy mẫu cần tính đến thời gian trễ (lag time) giữa lúc mũi khoan xuyên và lúc mẫu trồi lên mặt đất |
| Khoan guồng xoắn kiểu thùng (Bucket Auger) (Xoay) | Đường kính phổ biến đến 48 inch; khi nối dài có thể đạt độ sâu trên 80 ft | Hầu hết các loại đất trên mực nước ngầm; có thể xuyên đất cứng hơn loại trên, có thể xuyên cuội và tảng đá khi dùng gàu đá (rock bucket) | Đất quá cứng, không xuyên được | Có nhiều loại gàu khác nhau, bao gồm loại có răng xé (ripper teeth) và dụng cụ băm (chopping tools); tiến độ chậm khi dùng đoạn nối dài |
| Thí nghiệm Xuyên Cỡ lớn (Large Penetration Test – LPT) (Đóng bằng búa đến 300 lb) | Ống mẫu đường kính trong 2 đến 3 inch, đường kính ngoài 2,5 đến 3,5 inch (ví dụ: ống mẫu Converse và California) | Đất cát đến đất lẫn cuội sỏi | Hạt lớn hơn cuội sỏi thô | Mẫu là mẫu nguyên khối nhưng bị xáo trộn rất mạnh; có thể ghi nhận sức kháng trong quá trình xuyên, nhưng không tương đương với giá trị N của SPT và biến động nhiều hơn do không có thiết bị và phương pháp tiêu chuẩn hóa |
\(\\\)

2-6.1.2 Mẫu Đất Nguyên khối.
Mẫu nguyên khối (hoặc “nguyên trạng”) thường được lấy phổ biến nhất bằng ống mẫu thép thành mỏng (Shelby tube), được ấn vào đất với tốc độ tương đối nhanh và không đổi, theo quy trình quy định trong ASTM D1587. Công tác lấy mẫu nguyên khối và thiết bị lấy mẫu cần cho ra mẫu đáp ứng các tiêu chí sau: (1) không có biến dạng nhìn thấy được ở các lớp đất, (2) không có khe hở hoặc vật liệu bị hóa mềm nhìn thấy được, (3) có tỷ lệ thu hồi (recovery ratio) (tức là chiều dài mẫu chia cho khoảng cách ấn ống mẫu) vượt quá 95%, (4) có tỷ số diện tích (area ratio) (tức là diện tích bị chiếm chỗ bởi thành ống mẫu chia cho diện tích mẫu) nhỏ hơn 15%, và (5) có tỷ số khe hở (clearance ratio) (tức là chênh lệch giữa đường kính trong của ống mẫu và đường kính lỗ mở ở đầu dưới ống mẫu, chia cho đường kính lỗ mở ở đầu dưới ống mẫu) càng nhỏ càng tốt nhưng nhỏ hơn 3%. Sơ đồ minh họa và hình ảnh của một ống mẫu Shelby thành mỏng đáp ứng các tiêu chí này được trình bày trong Hình 2-3.

Nhìn chung, không thể lấy được mẫu nguyên khối của cát sạch và cuội sỏi sạch, ngay cả khi sử dụng ống mẫu thành mỏng. Vì lý do này, các phương pháp thí nghiệm in situ thường được sử dụng đối với các loại đất này, và công tác lấy mẫu nguyên khối chủ yếu tập trung vào bụi, sét, và đất hạt thô có hàm lượng hạt mịn bụi và sét đáng kể. Do đất hạt mịn có thể biến động từ rất mềm đến rất cứng, nhiều loại thiết bị lấy mẫu khác nhau đã được phát triển để hỗ trợ việc thu hồi mẫu nguyên khối. Bảng 2-12 tóm tắt các loại thiết bị lấy mẫu thông dụng dùng cho mẫu đất nguyên khối.
Bảng 2-12 Thiết bị Lấy mẫu Dùng để Lấy Mẫu Đất Nguyên khối
| Thiết bị Lấy mẫu | Kích thước Điển hình | Phương pháp Xuyên |
|---|---|---|
| Ống mẫu Shelby (ASTM D1587) | Đường kính ngoài (OD) 3,0 inch và đường kính trong (ID) 2,87 inch là phổ biến nhất; có loại đường kính ngoài từ 2 đến 5 inch; chiều dài ống mẫu tiêu chuẩn 30 inch | Ấn với tốc độ tương đối nhanh, đều tay; có thể đóng cẩn thận bằng búa nhưng sẽ gây thêm xáo trộn |
| Piston cố định hoặc tĩnh (Fixed/Stationary Piston) | Đường kính ngoài 3 inch là phổ biến nhất; có loại từ 2 đến 5 inch; chiều dài ống mẫu tiêu chuẩn 30 inch | Ấn với tốc độ liên tục, đều tay |
| Ống mẫu lá kim loại (Foil Sampler) | Mẫu liên tục với đường kính trong 2 inch; dài đến 65 ft | Ấn xuống nền đất với tốc độ đều tay; có tạm dừng để nối thêm đoạn ống mẫu |
| Piston thủy lực (Osterberg) | Đường kính ngoài 3 inch là phổ biến nhất; có loại từ 2 đến 4 inch; chiều dài tiêu chuẩn 36 inch | Áp lực thủy lực hoặc khí nén |
| Ống mẫu Denison | Đường kính ngoài 3,5 đến 7 inch, cho mẫu đường kính 2,4 đến 6,3 inch; chiều dài ống mẫu tiêu chuẩn 24 inch | Xoay kết hợp áp lực thủy lực |
| Ống mẫu Pitcher | Đường kính ngoài 4 inch; sử dụng ống mẫu Shelby đường kính 3 inch; chiều dài mẫu 24 inch | Giống như ống mẫu Denison |
\(\\\)
| Ống lấy mẫu (Sampler) |
Loại đất cho kết quả tốt nhất |
Nguyên nhân gây xáo trộn hoặc thu hồi mẫu thấp |
Ghi chú |
|---|---|---|---|
| Ống Shelby (ASTM D1587) |
Đất dính hạt mịn hoặc đất mềm; đất lẫn sỏi/rất cứng sẽ làm móp mép ống | Áp lực lấy mẫu không đều, gõ đập, hạt sỏi, mép ống bị móp, sai loại đất, ấn ống quá 80% chiều dài ống | Thiết bị đơn giản nhất để lấy mẫu nguyên dạng; cần làm sạch hố khoan trước khi hạ ống lấy mẫu; diện tích thừa trong ống nhỏ; không phù hợp với đất cứng, chặt hoặc lẫn sỏi |
| Pít-tông cố định (Fixed or Stationary piston) | Sét mềm đến trung bình và bụi mịn; không phù hợp với đất cứng, chặt, cát hoặc lẫn sỏi | Áp lực lấy mẫu không đều trong quá trình lấy mẫu, khiến cần pít-tông bị dịch chuyển khi ấn ống; sai loại đất đối với loại ống lấy mẫu này | Pít-tông ở đầu ống lấy mẫu ngăn không cho chất lỏng và vật liệu gây nhiễm bẩn xâm nhập; cần giàn khoan thủy lực công suất lớn với đầu khoan thủy lực; ít gây xáo trộn mẫu hơn so với ống Shelby |
| Ống lấy mẫu bọc lá kim loại (Foil sampler) | Sét nhạy cảm mềm, bụi và sét có lớp xen kẹp (varved clays) | Không nên sử dụng trong đất có lẫn mảnh vụn hoặc vỏ sò | Mẫu được bao quanh bởi các dải thép không gỉ mỏng, được lưu trữ phía trên lưỡi cắt, nhằm ngăn đất tiếp xúc trực tiếp với thành ống |
| Pít-tông thủy lực (Hydraulic piston – Osterberg) | Bụi và sét, một số đất cát | Kẹp cần khoan không đủ chặt, áp lực không đều | Chỉ cần cần khoan tiêu chuẩn; cần công suất thủy lực hoặc khí nén đủ để kích hoạt ống lấy mẫu; mẫu thường ít bị xáo trộn hơn so với ống Shelby; không phù hợp với đất cứng, chặt hoặc lẫn sỏi |
| Denison | Sét cứng đến rất cứng, bụi và cát có một phần xi măng hóa, đá mềm | Vận hành ống lấy mẫu không đúng cách; quy trình khoan kém | Mặt ống trong nhô ra ngoài ống ngoài, ống ngoài quay được; mức độ nhô ra có thể điều chỉnh; thường cho mẫu tốt; không phù hợp với cát rời và sét mềm |
| Pitcher | Tương tự như Denison | Tương tự như Denison | Khác với Denison ở chỗ độ nhô ra của ống trong được điều khiển bằng lò xo; thường kém hiệu quả trong đất rời (cohesionless soils) |
Đối với đất mềm, ống lấy mẫu piston đứng yên (hoặc piston cố định) (Hình 2-4) hoặc ống lấy mẫu piston thủy lực thường được sử dụng. Đối với đất rất mềm và đất sét phân lớp, có thể sử dụng ống lấy mẫu có lót màng, mặc dù loại này được sử dụng hạn chế tại Hoa Kỳ.

Đối với đất hạt mịn cứng, hoặc đối với các lớp vật liệu mềm và cứng xen kẽ, đã có các loại ống lấy mẫu chuyên dụng được phát triển, có khả năng lấy lõi xuyên qua các lớp vật liệu cứng trong khi vẫn thu giữ được các lớp vật liệu mềm hơn trong cùng một ống thành mỏng. Ống Denison và ống Pitcher là hai loại ống lấy mẫu thông dụng cho các điều kiện dưới bề mặt như vậy.
2-6.1.3 Mẫu nguyên dạng lấy từ hố đào khảo sát và hào khảo sát
Một trong những ưu điểm của hố đào khảo sát và hào khảo sát là có thể thu được các mẫu cắt gọt bằng tay (tức là mẫu khối) từ đáy hoặc thành bên của hố đào và hào khảo sát. Các mẫu khối này có thể là loại mẫu bị xáo động ít nhất trong tất cả các loại mẫu. Tuy nhiên, hố đào và hào khảo sát chỉ khả thi đến một độ sâu hạn chế.
Để lấy mẫu khối, một cột đất được cắt gọt với kích thước bằng hoặc nhỏ hơn một chút so với thùng chứa sẽ dùng để vận chuyển mẫu. Thùng chứa phải được đặt lên phía trên mẫu và cần tạo ra khoảng hở vành khăn nhỏ nhất có thể. Lý tưởng nhất, khoảng hở này nên được lấp bằng sáp. Một sự lắp khít trong một thùng chứa cứng có thể bịt kín sẽ tạo điều kiện tốt nhất để thu hồi và vận chuyển mẫu khối với mức độ xáo động nhỏ nhất.
2-6.2 Lấy mẫu đá
Đá được lấy mẫu bằng ống lấy lõi có gắn mũi khoan hợp kim cứng tungsten carbide hoặc mũi khoan kim cương tại đầu cắt. Cần khoan và ống lấy lõi có nhiều kích thước tiêu chuẩn khác nhau (xem Bảng 2-13), tùy theo kích thước lõi đá thu hồi.
Bảng 2-13. Kích thước tiêu chuẩn của ống vách (Rock Casing),
cần khoan (Drill Rod), ống khoan lõi (Core Barrel) và lỗ khoan (Corehole)
(theo ASTM D2113)
| Ống vách, ống khoan lõi (Casing, Core Barrel) |
Cần khoan (Drill Rod) |
Đường kính ngoài ống vách (Casing OD) (in.) |
Đường kính ngoài mũi khoan ống vách (Casing Bit OD) (in.) |
Đường kính ngoài mũi khoan ống lõi (Core Barrel Bit OD) (in.) |
Đường kính ngoài cần khoan (Drill Rod OD) (in.) |
Đường kính gần đúng của lỗ khoan (Approx. Diameter of Corehole) (in.) |
Đường kính gần đúng của lõi (Approx. Diameter of Core) (in.) |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| EX | E | 1-13/16 | 1-7/8 | 1-7/16 | 1-5/16 | 1-1/2 | 7/8 |
| AX | A | 2-1/4 | 2-11/32 | 1-27/32 | 1-5/8 | 1-7/8 | 1-3/16 |
| BX | B | 2-7/8 | 2-31/32 | 2-5/16 | 1-29/32 | 2-3/8 | 1-5/8 |
| NX | N | 3-1/2 | 3-5/8 | 2-15/16 | 2-3/8 | 3 | 2-1/8 |
Đối với đá cứng và nguyên khối, có thể thu được mẫu đá tương đối nguyên khối (undisturbed) chỉ bằng cách sử dụng ống khoan lõi để lấy mẫu. Phổ biến hơn, một ống (hoặc một loạt ống) được sử dụng để chứa lõi đá, và ống này được cách ly khỏi ống khoan lõi nhằm giảm thiểu xáo trộn. Ống trong bắt buộc phải được sử dụng để lấy mẫu đá nguyên khối bất cứ khi nào đá có chứa các mặt gián đoạn (discontinuities). Bảng 2-14 tổng hợp các kỹ thuật thu hồi mẫu đá tương đối nguyên khối.
Bảng 2-14. Các ống lấy mẫu lõi đá thông dụng
(theo NCHRP 2018)
| Ống khoan lõi kim cương (Diamond Core Barrels) | ||||
|---|---|---|---|---|
| Kích thước | Loại đất hoặc đá cho kết quả tốt nhất | Phương pháp xuyên | ||
| Kích thước tiêu chuẩn: OD từ 1-1/2” đến 3”, lõi từ 7/8” đến 2-1/8”. Chiều dài ống lấy lõi từ 5 đến 10 ft cho mục đích khảo sát. | Đá cứng. Tất cả các ống đều có thể lắp mũi khoan chèn để khoan lấy lõi đá mềm hoặc đất cứng. | Khoan xoay dùng nước hoặc dung dịch huyền phù. | ||
| Chi tiết về lấy mẫu bằng ống (Tube Sampling) | ||||
| Loại | Nguyên nhân gây xáo động hoặc làm giảm tỷ lệ thu hồi | Loại đất hoặc đá cho kết quả tốt nhất | Ghi chú | |
| Ống đơn | Đá nứt nẻ. Đá quá mềm. | Chủ yếu dùng cho đá cứng, lành và đồng nhất. | Dung dịch khoan phải tuần hoàn quanh lõi – đá không được bị xói mòn. Ống đơn không thường được dùng cho khảo sát. | |
| Ống đôi | Tốc độ quay hoặc tốc độ ấn không phù hợp trong đá nứt nẻ hoặc đá mềm. | Đá không đồng nhất, đá nứt nẻ, đá bở rời và đá mềm. | Có ống trong hoặc khớp xoay không quay cùng ống ngoài. Dùng tốt cho đá mềm, dễ xói mòn. Hiệu quả nhất với mũi khoan xả đáy. | |
| Ống ba | Giống như ống đôi. | Giống như ống đôi. | Khác với ống đôi ở chỗ có thêm ống lót trong chẻ đôi. Lõi đá nứt nẻ mạnh được bảo tồn tốt nhất trong loại ống này. | |
\(\\\)
Ống khoan lõi hai lớp (double tube core barrels) là loại được sử dụng phổ biến nhất trong thực tế. Tùy thuộc vào số lượng mặt gián đoạn (discontinuities) trong đá, mẫu thu được có thể được xem là mẫu xáo trộn hoặc mẫu nguyên khối. Sơ đồ cấu tạo của ống lấy mẫu lõi đá loại đơn và loại hai lớp được trình bày lần lượt trong Hình 2-5(a) và (b).

(theo NCHRP 2018)
Mức độ phù hợp của lõi đá cho các thí nghiệm xác định đặc tính phục vụ thiết kế kết cấu phụ thuộc vào chất lượng của từng mẫu thu được. Nếu cần xác định các tính chất của đá nguyên khối, thì nên sử dụng lõi có đường kính nhỏ hơn, vì lõi đá có đường kính lớn thường chứa nhiều mặt gián đoạn (discontinuities) hơn so với lõi có đường kính nhỏ.
Tỷ lệ thu hồi lõi (percentage of core recovery) (tức là chiều dài lõi thu được chia cho chiều dài đợt khoan lõi đã ghi nhận) cho biết mức độ nguyên vẹn và mức độ phong hóa của đá. Chỉ số chất lượng đá, RQD (Rock Quality Designation) (tức là tổng chiều dài các đoạn lõi thu được có chiều dài lớn hơn 4 inch chia cho chiều dài đợt khoan lõi đã ghi nhận) cho biết chính xác hơn về mức độ nguyên vẹn và mức độ phong hóa của đá, vì chỉ số này về cơ bản đã loại trừ các đoạn đá nứt nẻ và phong hóa. RQD cũng là một yếu tố quan trọng trong việc đánh giá ứng xử của khối đá tại chỗ (in situ), được thể hiện qua Chỉ số Phân loại Khối đá (RMR – Rock Mass Rating). Kỹ sư và địa chất viên cần xem xét kỹ các mẫu lõi đá có tỷ lệ thu hồi thấp và/hoặc RQD thấp để đánh giá nguyên nhân gây ra tỷ lệ thu hồi thấp và chất lượng đá kém được suy diễn từ đó. Chi tiết về phân loại đá và tính chất của đá được trình bày trong Chương 1 và trong NCHRP (2018).
Việc lấy mẫu đá phong hóa mạnh (hoặc phong hóa một phần), nứt nẻ, hoặc rã rời là hết sức khó khăn. Các loại vật liệu này thường xuất hiện gần ranh giới giữa đất và đá, đại diện cho vùng chuyển tiếp giữa hai loại vật liệu này, đặc biệt trong trường hợp đất tàn tích (residual soils). Mẫu tốt nhất của các vật liệu này có được nhờ đội ngũ khoan có kinh nghiệm, sử dụng ống lấy mẫu khoan lõi hai lớp hoặc ba lớp.
2-6.3 Lấy mẫu ngoài khơi
Trong một số trường hợp, mẫu đất và đá phải được lấy từ đáy sông, hồ, hoặc đại dương. Đối với độ sâu nước nhỏ hơn khoảng 60 ft, có thể sử dụng thiết bị khoan lấy mẫu đất và đá thông thường trên các sà lan tự nâng nhỏ (small jack-up platforms), sà lan nhỏ, hoặc phao thùng (barrel floats). Thách thức ở đây là thiết bị nổi cần có hệ thống neo phù hợp và chỉ phù hợp với vùng nước tương đối lặng, mặc dù dao động thủy triều có thể dễ dàng xử lý được. Đối với các vị trí nước sâu và/hoặc điều kiện biển khắc nghiệt, cần có tàu khoan chuyên dụng cỡ lớn, thiết bị chuyên dụng, và kinh nghiệm để thu được mẫu nguyên khối (intact samples) đạt chất lượng. Bảng 2-15 liệt kê một số thiết bị chuyên dụng dùng cho lấy mẫu dưới nước.
Có nhiều loại ống lấy mẫu hải dương học (oceanographic samplers), bao gồm cả loại ống hở và loại pít-tông, được sử dụng khi khoan từ tàu. Một số loại phụ thuộc vào cơ chế xuyên rơi tự do (free-fall penetration) và bị giới hạn về độ sâu khảo sát. Việc khoan và lấy mẫu từ đáy biển có thể thực hiện bằng thiết bị chuyên dụng điều khiển từ xa, được triển khai từ các thiết bị di động đặt trong tàu lặn dưới nước hoặc trên các nền tảng dưới nước hoạt động ngay tại đáy biển. Chất lượng mẫu thu được bởi hầu hết các ống lấy mẫu hải dương học không cao, do tỷ lệ chiều dài trên đường kính lớn và do khí/khí hòa tan trong môi trường dưới nước thoát ra khỏi dung dịch khi mẫu được đưa lên mặt đất. Để biết thông tin chi tiết về thiết bị lấy mẫu dưới nước, tham khảo ASTM STP 501 (ASTM 1972).
Bảng 2-15. Các ống lấy mẫu dưới nước thông dụng
(theo NCHRP 2018)
| Ống lấy mẫu | Kích thước mẫu | Chiều dài mẫu | Giới hạn độ sâu nước | Phương pháp xuyên | Ghi chú |
|---|---|---|---|---|---|
| Gầu ngoạm Peterson | Mẫu ngoạm | Độ sâu khoảng ± 6 inch | Đến 200 ft và lớn hơn nếu tăng thêm tải trọng | Hàm ngoạm kiểu vỏ sò | Thiết bị lấy mẫu ngoạm tin cậy; có thể thu được mẫu tương đối nguyên dạng nếu hai má ngoạm khép kín chính xác. |
| Ống lấy lõi trọng lực kiểu hở | Đường kính từ 2,5 đến 6 inch | Chiều dài ống lấy lõi từ 6 đến 30 ft | Không giới hạn về độ sâu, nhưng tải trọng yêu cầu, chiều dài cáp hoặc kích thước tàu có thể là yếu tố khống chế | Thả tự do từ tang tời | |
| Ống lấy lõi Pflueger | Đường kính khoảng 1,5 inch | Ống lấy lõi có các chiều dài 12, 24 và 36 inch | Từ 25 đến 200 ft | Rơi tự do từ độ cao 10 đến 20 ft phía trên đáy | Ống lấy lõi tương đối nhẹ để lấy mẫu lớp trầm tích đáy trên cùng dày khoảng 1 đến 3 ft; thường không phù hợp cho thí nghiệm cường độ. |
| Ống lấy lõi trọng lực có piston | Ống lấy lõi tiêu chuẩn có đường kính 2,5 inch | Chiều dài tiêu chuẩn 10 ft. Có thể nối thêm từng đoạn 10 ft. | Không giới hạn độ sâu, ngoại trừ tải trọng sẵn có, chiều dài cáp hoặc kích thước tàu có thể là yếu tố khống chế | Rơi tự do từ độ cao đã hiệu chỉnh phía trên đáy sao cho piston không xuyên vào trầm tích | Có thể thu được mẫu thích hợp cho thí nghiệm cường độ nếu tổ đội có kinh nghiệm; mẫu vẫn có thể bị xáo động đáng kể. |
| Ống lấy lõi rung | Mẫu có đường kính 3,5 inch | Tiêu chuẩn 20 ft, có thể kéo dài đến 40 ft | Độ sâu tối thiểu bị khống chế bởi mớn nước của tàu hỗ trợ; độ sâu lớn nhất khoảng 200 ft | Búa rung tác động bằng khí nén | Mẫu bị xáo động do rung động và tỷ số diện tích lớn; không phù hợp cho thí nghiệm cường độ; có thể đo sức kháng xuyên; thu được mẫu liên tục trong đất biển. |
2-6.4 Ghi chép hiện trường và nhật ký hố khoan
Trong quá trình giám sát công tác khoan và lấy mẫu, kỹ sư, địa chất viên, hoặc người khoan có kinh nghiệm sẽ lập nhật ký hố khoan hiện trường (field boring log) để ghi lại các phát hiện và quan sát. Việc ghi chép hiện trường này là một phần quan trọng trong việc lập hồ sơ về điều kiện đất và đá tại vị trí dự án. Một nhật ký hiện trường điển hình bao gồm toàn bộ thông tin liên quan đến hố khoan đã hoàn thành, bao gồm: số hiệu nhận dạng hố khoan duy nhất, ngày khoan, nhân sự có mặt tại hiện trường, phương pháp thi công hố khoan (tức là khoan guồng xoắn, khoan xoay rửa, ép tĩnh, khoan rung sonic), độ sâu lấy mẫu, loại mẫu (tức là ống mẫu chẻ đôi và ống Shelby), loại búa, giá trị SPT N thô, quan sát mực nước, và ước tính sơ bộ về địa tầng. Nếu có, nên bao gồm cả tọa độ hệ thống định vị toàn cầu (GPS). Nhật ký hiện trường cung cấp ký hiệu nhận dạng duy nhất cho từng mẫu thu được, dù là mẫu xáo trộn hay mẫu nguyên khối, cũng như phân loại trực quan hiện trường của mẫu theo tiêu chuẩn ASTM D2488.
Nhật ký hiện trường, các mẫu thu được, và kết quả thí nghiệm trong phòng/hiện trường được sử dụng để lập nhật ký hố khoan cuối cùng (final boring log), đại diện cho hồ sơ kỹ thuật chính thức của công tác khoan và lấy mẫu. Nhật ký hố khoan cung cấp tài liệu kỹ thuật lâu dài về các loại vật liệu gặp phải trong quá trình khoan, lấy mẫu, và khoan lõi. Kỹ sư địa kỹ thuật hoặc địa chất viên sử dụng kết quả từ hiện trường cùng với kiến thức chuyên môn/kinh nghiệm của mình để nhóm các mẫu/hồ sơ lại với nhau dựa trên màu sắc, loại đất, và giá trị SPT N, đồng thời xác định các lớp hoặc tầng đất, những lớp này có thể được tìm thấy nhất quán trong các hố khoan lân cận tại cùng khu vực dự án. Một ví dụ về nhật ký hố khoan kỹ thuật được thể hiện trong Hình 2-6. Trong nhật ký hố khoan kỹ thuật cuối cùng, các loại đất được phân loại theo một hệ thống phân loại đất do người dùng hoặc cơ quan quy định lựa chọn. Các hệ thống phân loại đất phổ biến nhất tại Hoa Kỳ bao gồm Hệ thống Phân loại Đất Thống nhất (USCS – Unified Soil Classification System) (ASTM D2487 hoặc D2488), hệ thống AASHTO, và hệ thống của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA – United States Department of Agriculture).

Ngoài phân loại đất, mô tả trong nhật ký hố khoan cũng cần bao gồm màu sắc, độ chặt tương đối (relative density) (ví dụ: rời, chặt…) hoặc độ đặc chắc (consistency) (ví dụ: mềm, trung bình, cứng…), và sự có mặt của các thành phần hữu cơ, vỏ sò, than bùn (peat) và/hoặc vật liệu nhân tạo. Việc xác định các đặc điểm bổ sung này có thể ảnh hưởng đến hiệu quả thi công và có thể có ích trong các giai đoạn thi công/đào đất tiếp theo của dự án.
2-7 CÁC THÍ NGHIỆM XUYÊN
Thí nghiệm xuyên là các kỹ thuật thí nghiệm tại chỗ (in situ) phổ biến nhất để xác định đặc điểm nền đất. Thí nghiệm xuyên hiện trường phổ biến nhất là Thí nghiệm Xuyên Tiêu chuẩn (Standard Penetration Test – SPT), đo sức kháng xuyên của một ống lấy mẫu thành dày tiêu chuẩn đóng vào hố khoan hở bằng búa rơi. Một thí nghiệm được kiểm soát chặt chẽ hơn và ngày càng phổ biến là Thí nghiệm Xuyên Tĩnh (Cone Penetration Test – CPT), sử dụng một đầu đo hình côn tiêu chuẩn được ấn xuống với tốc độ không đổi từ mặt đất. Một thí nghiệm phổ biến khác là thí nghiệm dilatometer bản phẳng (flat plate dilatometer – DMT). Thiết bị này sử dụng một lưỡi thép chắc chắn được ấn xuống đất với tốc độ không đổi, sau đó dừng định kỳ để cho phép một màng thép mềm được thổi phồng có kiểm soát và đo đạc. Ở nhiều khu vực tại Hoa Kỳ, đặc biệt khi gặp đất cứng và/hoặc đất rời, thí nghiệm xuyên côn động (dynamic cone penetration – DCP) được thực hiện bằng cách đóng một côn kích thước tiêu chuẩn vào đất bằng búa rơi. Phần này cung cấp thông tin về bốn phương pháp thí nghiệm xuyên nêu trên. Phần 2-9 sẽ đề cập đến các phương pháp thí nghiệm tại chỗ phổ biến khác.
2-7.1 Thí nghiệm Xuyên Tiêu chuẩn (SPT).
SPT được phát triển lần đầu vào những năm 1900 và được thực hiện bằng cách đóng một ống lấy mẫu thành dày, chẻ đôi (split-barrel) (còn gọi là “split spoon”) vào đất bằng các nhát búa rơi liên tiếp. Ống lấy mẫu được đóng vào đất tổng cộng 18 inch (khoảng 45 cm). Số nhát búa cần thiết để đóng ống lấy mẫu qua đoạn 12 inch (30 cm) theo phương thẳng đứng, từ độ sâu 6 đến 18 inch (khoảng 15 – 45cm), được gọi là giá trị N hay số nhát búa (blow count). Quy trình thí nghiệm được trình bày trong tiêu chuẩn ASTM D1586, và sơ đồ cấu tạo của SPT được trình bày trong Hình 2-7.
SPT cung cấp mẫu đất xáo trộn của vật liệu được thí nghiệm và tạo ra dữ liệu hữu ích có thể được sử dụng để tương quan với nhiều đặc tính kỹ thuật. Nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến kết quả SPT, và có một số phương pháp thí nghiệm tại chỗ khác vượt trội hơn hẳn. Tuy nhiên, thí nghiệm này vẫn gần như được tham chiếu phổ biến và thường được yêu cầu tại Hoa Kỳ. Một trong những lý do là do khối lượng dữ liệu lịch sử (tức là dữ liệu cũ) sẵn có rất lớn. Nhiều tương quan đã được công bố (xem Chương 8) và việc sử dụng các tương quan này cùng với SPT đại diện cho Tiêu chuẩn Thực hành (Standard of Practice) phổ biến ở nhiều nơi tại Hoa Kỳ.
2-7.1.1 Hiệu chỉnh số nhát búa hiện trường.
Như một cải tiến so với búa donut và búa an toàn (donut and safety hammers) đời cũ, hầu hết các chương trình SPT hiện nay sử dụng búa tự động (automatic hammer), không phụ thuộc vào đầu tời (cathead) và dây thừng do người vận hành điều khiển để xác định chiều cao rơi của búa. Búa tự động hiện đại tạo ra năng lượng ổn định truyền vào ống lấy mẫu, và năng lượng này cần được đo đạc định kỳ. Các giá trị N ghi nhận tại hiện trường có thể được hiệu chỉnh để phản ánh năng lượng của loại búa cụ thể được sử dụng. Mục đích của việc hiệu chỉnh là để đưa giá trị N về mức hiệu suất búa 60%, vốn được giả định cho các thiết bị đời cũ và các tương quan lịch sử. Giá trị đã hiệu chỉnh năng lượng (N₆₀) cũng có thể được chuẩn hóa về giá trị tương đương tại ứng suất thẳng đứng bằng một atmosphere. Số nhát búa “đã hiệu chỉnh theo tải trọng phủ” hoặc “đã chuẩn hóa” được ký hiệu là (N₁)₆₀ hoặc N₁,₆₀. Một số tương quan liên quan đến số nhát búa đã chuẩn hóa được trình bày trong Chương 8 và trong McGregor và Duncan (1998).

(theo NCHRP 2018 và Mayne 2012)
2-7.1.2 Ưu điểm và hạn chế
Ưu điểm lớn nhất của SPT là mức độ được chấp nhận và sử dụng gần như phổ biến tại Hoa Kỳ. Vì vậy, hiện có một cơ sở dữ liệu rất lớn có thể dùng để thiết lập các tương quan.
Tuy nhiên, số búa SPT bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố thao tác, bởi sự hiện diện của sỏi, và bởi mức độ gắn kết giữa các hạt đất. Trong đất sét, số búa không phản ánh ảnh hưởng của các khe nứt hoặc mặt trượt bóng (slickensides). Bảng 2-16 trình bày phần tóm tắt nhiều yếu tố thao tác đã được biết là có ảnh hưởng đến giá trị N đo được ngoài hiện trường.
Bảng 2-16. Các yếu tố ảnh hưởng đến thí nghiệm xuyên tiêu chuẩn và kết quả SPT
(theo Kulhawy và Mayne 1990)
| Nguyên nhân | Ảnh hưởng | Tác động đến giá trị SPT N |
|---|---|---|
| Ống lấy mẫu được đóng khi còn ở phía trên đáy ống vách (casing) | Ống lấy mẫu đóng vào đất bị xáo trộn, bị nén chặt nhân tạo | Tăng mạnh |
| Làm sạch đáy hố khoan không đầy đủ | Thí nghiệm không được thực hiện trên đất nguyên trạng tại chỗ (in situ); đất có thể bị kẹt trong ống lấy mẫu và bị nén ép trong quá trình đóng ống, làm giảm tỷ lệ thu hồi mẫu | Tăng |
| Đo chiều cao rơi búa không cẩn thận | Năng lượng búa dao động (thường có xu hướng lệch thấp) | Tăng |
| Búa va vào đầu cần khoan không đồng tâm | Năng lượng búa bị giảm | Tăng |
| Búa không rơi tự do do ròng rọc thiếu bôi trơn, dây mới còn cứng, quấn hơn hai vòng trên đầu tời (cathead), hoặc nhả dây không hết mỗi lần thả búa | Năng lượng búa bị giảm | Tăng |
| Sỏi thô hoặc đá cuội trong đất | Ống lấy mẫu bị tắc hoặc bị cản trở | Tăng |
| Sử dụng cần khoan bị cong | Cản trở truyền năng lượng của ống lấy mẫu | Tăng |
| Trọng lượng búa không chính xác | Năng lượng búa dao động (do người vận hành khoan cung cấp trọng lượng; dao động 5–7% là phổ biến) | Tăng hoặc giảm |
| Đếm số nhát búa không cẩn thận | Kết quả không chính xác | Tăng hoặc giảm |
| Sử dụng ống lấy mẫu không đạt chuẩn | Các tương quan với ống lấy mẫu tiêu chuẩn không còn hiệu lực | Tăng hoặc giảm |
| Không duy trì đủ cột nước trong hố khoan | Đáy hố khoan có thể bị chảy nhão (quick condition) | Giảm |
\(\\\)
2-7.2 Thí nghiệm xuyên côn (CPT)
CPT là thí nghiệm trong đó một đầu xuyên thép có gắn thiết bị đo được ấn bằng thủy lực với tốc độ không đổi để thu được bản ghi liên tục về sức kháng xuyên của mũi côn và sức kháng ma sát của đất. CPT không tạo ra lỗ khoan, mẫu, hay mùn khoan. Thí nghiệm ban đầu sử dụng một mũi côn vận hành cơ học, được gọi là côn “Hà Lan” (DPT). Thiết bị ban đầu này sau đó đã được thay thế, cải tiến và nâng cấp để cho phép đo điện tử.
Phần lớn các thiết bị hiện đại còn bao gồm một piezometer đặt gần mũi xuyên. Khi được trang bị các đầu đo và thiết bị thích hợp, một lần thực hiện CPT còn có thể cho phép đo nhiệt độ, độ thẳng đứng, điện trở suất, phát xạ âm, và vận tốc sóng cắt.
Hiện nay, thí nghiệm được tiến hành theo ASTM D5778. Thí nghiệm có thể được thực hiện không cần đo áp lực nước lỗ rỗng, và khi đó được gọi đơn giản là CPT. Ngoài ra, một cách khác (và cũng là cách thông dụng) là thực hiện thí nghiệm bằng thiết bị đo áp lực nước lỗ rỗng phía sau mũi xuyên trong quá trình ấn. Thí nghiệm này được gọi là thí nghiệm piezocone (CPTu). Những tiến bộ gần đây còn cho phép đo sự lan truyền của sóng cắt bằng piezocone địa chấn, được gọi là CPT địa chấn (SCPTu).
2-7.2.1 Thiết bị và quy trình thí nghiệm
Thí nghiệm xuyên côn yêu cầu ấn đầu xuyên liên tục bằng thủy lực đồng thời ghi nhận đồng thời số liệu từ nhiều thiết bị điện tử. Các thiết bị và quy trình cụ thể cần thiết để thực hiện CPT được tóm tắt như sau:
- Thiết bị xuyên côn: Thiết bị xuyên côn tiêu chuẩn là một đầu xuyên hình trụ đường kính 1.4 inch (35.7 mm) với góc đỉnh côn 60° ở mũi, tạo ra diện tích mũi chiếu bằng 1.55 in² (10 cm²) và diện tích bề mặt ống ma sát có gắn thiết bị đo bằng 23.3 in² (150 cm²). Ngoài ra còn có các kích cỡ khác, cả nhỏ hơn và lớn hơn. Kích cỡ của côn thường được xác định theo diện tích mũi chiếu (ví dụ: côn 10 cm² hoặc côn 15 cm²). Có nhiều cấp tải đầu xuyên khác nhau (ví dụ: 2 tấn, 15 tấn, v.v.).
- Giàn khoan/xe tải CPT và cần xuyên côn: Một bộ chấp hành thủy lực được gắn vào xe tải hoặc giàn khoan có khả năng tạo đủ lực phản lực để ấn đầu xuyên với tốc độ không đổi 2 cm/s. Lực phản lực này có thể được cung cấp bằng giàn khoan thông thường, nhưng hiện nay xe chuyên dụng CPT, thường có khối lượng 20 đến 25 tấn, đã trở thành tiêu chuẩn.
- Đầu đo áp lực nước: Có thể thu được thông tin rất có giá trị bằng cách đo áp lực nước lỗ rỗng phía sau mũi côn trong quá trình xuyên. Đối với CPTu, áp lực nước được theo dõi bằng bộ chuyển đổi áp lực và phần tử lọc rỗng.
- Địa chấn kế (geophone): Đối với SCPTu, một geophone được đặt dọc theo cần xuyên tại vị trí cách mũi côn khoảng 20 inch (500 mm). Geophone này phát hiện sóng cắt được tạo ra trên mặt đất tại các khoảng sâu thẳng đứng xác định. Trong quá trình xuyên côn địa chấn, một sóng cắt được tạo ra trên mặt đất. Từ đó có thể tính được vận tốc sóng cắt trung bình của đất giữa mặt đất và vị trí geophone.
Ví dụ về một biểu đồ kết quả CPT được trình bày trong Hình 2-8. Hình này thể hiện sơ đồ của đầu xuyên CPT và mặt cắt thẳng đứng gần như liên tục của sức kháng mũi côn \((q_t)\), ma sát áo ma sát \((f_s)\), và áp lực nước lỗ rỗng tại vị trí \(u_2\) (phía sau mũi côn).
2-7.2.2 Phân loại đất bằng CPT
Bất kể loại đầu xuyên dùng cho thí nghiệm xuyên côn là gì (tức là CPT, CPTu, hay SCPTu), nguyên lý thí nghiệm này đã gần như được chấp nhận và quan tâm rộng rãi. Như thể hiện trong Hình 2-8, có thể thu được mặt cắt thẳng đứng gần như liên tục của sự biến đổi địa tầng. Nhiều tham số kỹ thuật có thể được ước tính từ kết quả CPT. Hiện đã có nhiều tương quan giữa dữ liệu CPT với cường độ, tính nén lún, mô đun biến dạng, hệ số thấm, và các tính chất khác; một số trong đó được trình bày trong Chương 8.
CPT có thể được dùng để ước tính loại đất của lớp đất bị xuyên qua. Một phương pháp thường dùng cho mục đích này được trình bày trong Hình 2-9, trong đó liên hệ loại ứng xử của đất (SBT) với các kết quả CPT cụ thể. Dạng tương quan này đặc biệt hữu ích cho đặc trưng hóa hiện trường và địa tầng dưới bề mặt. Ngoài ra còn có các tương quan loại đất khác.
2-7.2.3 Ưu điểm và hạn chế
CPT có nhiều ưu điểm nhờ mức độ phổ biến của nó trong thực hành kỹ thuật và nhờ sự phong phú của các tương quan hữu ích với các tham số kỹ thuật khác. Thí nghiệm có thể được thực hiện nhanh chóng. Tốc độ thực hiện cho phép thu được khối lượng dữ liệu đáng kể trong thời gian ngắn, từ đó tạo ra bản ghi liên tục về điều kiện đất nền. CPT đặc biệt hữu ích trong việc đánh giá mức độ biến đổi của điều kiện dưới bề mặt trên toàn khu vực khảo sát.
Hạn chế lớn nhất của mọi thí nghiệm xuyên côn là không thu được các mẫu rời rạc để quan sát trực tiếp và thực hiện các thí nghiệm đối chứng đi kèm. Việc xuyên côn có thể gặp khó khăn trong đất chặt hoặc đất cứng đến rất cứng, và nếu người vận hành không có kinh nghiệm, đầu xuyên có thể bị hư hại (hoặc phá hỏng) khi gặp các vật liệu này. Thiết bị chuyên dụng và sự phụ thuộc vào hệ thống đo điện tử thường đòi hỏi phải sử dụng dịch vụ của đơn vị chuyên môn để thực hiện thí nghiệm.


(theo Robertson 2009 và NCHRP 2018)
2-7.3 Thí nghiệm bàn nén phẳng
Thí nghiệm bàn nén phẳng (DMT) được phát triển tại Ý và được đưa vào thực hành tại Hoa Kỳ từ những năm 1980 (Marchetti và cộng sự, 2006). Thí nghiệm này đã được áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới và quy trình thí nghiệm đã được tiêu chuẩn hóa trong ASTM D6635. Thí nghiệm được tiến hành bằng cách ấn một bản thép phẳng tương đối dài và mỏng xuống đất, thường theo các gia số thẳng đứng 9 đến 12 inch, rồi bơm phồng một màng thép mềm trong khi thực hiện hai hoặc ba phép đo xác định (tức là A, B, và C).
- Số đọc A là áp lực cần để tách màng khỏi bề mặt lưỡi thép.
- Số đọc B là áp lực cần để làm cho tâm của màng dịch chuyển vào trong đất một khoảng 0,04 inch (1,1 mm).
- Số đọc C là số đọc tùy chọn, có thể lấy bằng cách xả màng cho đến khi tâm màng lại tiếp xúc với bề mặt lưỡi thép.
Nhiều đơn vị thực hiện DMT bằng chính thiết bị chuyên dụng dùng cho CPT. Trong phần lớn trường hợp, thí nghiệm được tiến hành không cần khoan tạo lỗ trước, nên không tạo ra mẫu hoặc mùn khoan. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, DMT được hạ vào một lỗ khoan đã lấy mẫu, sau đó được ấn xuống sâu thêm khoảng 12 inch dưới đáy lỗ khoan rồi mới bơm phồng như mô tả ở trên. Sơ đồ nguyên lý của thí nghiệm được trình bày trong Hình 2-10.

(theo NCHRP 2018 và Mayne 2012)
2-7.3.1 Thiết bị, Quy trình và Kết quả.
Hình ảnh của thiết bị thử nghiệm xuyên ngang (DMT) được trình bày trong Hình 2-11(a), và bộ điều khiển được sử dụng để thực hiện thử nghiệm (tức là điều khiển việc bơm phồng và xả khí của màng) được hiển thị trong Hình 2-11(b). Lưỡi của thiết bị đo có kích thước danh định là rộng 3.75 inch (95 mm), dày 0.60 inch (15 mm) và cao 7.5 inch (190 mm) với góc đỉnh tại mũi là 30°. Một màng thép không gỉ đường kính 2.4 inch (60 mm) được sử dụng. Màng này thường dày 0.008 inch (0.20 mm) và yêu cầu hiệu chuẩn cẩn thận. Bộ điều khiển sử dụng nguồn cấp khí đóng chai (nitơ). Một giàn khoan CPT thường được sử dụng để đẩy thiết bị đo với tốc độ khoảng 0.4 đến 1.2 inch/giây (1 đến 3 cm/s). Lực đẩy thẳng đứng thường được theo dõi và ghi lại trong suốt quá trình thử nghiệm.

(Marchetti và cộng sự, 2006)
Phương pháp DMT và các phép tính được tóm tắt trong Hình 2-10. Để biết chi tiết hơn về quy trình thí nghiệm, xem NCHRP (2018). Kết quả thí nghiệm DMT sau khi rút gọn cho ra ba giá trị p₀, p₁, và u₀, từ đó các chỉ số DMT sau đây được tính trực tiếp tại mỗi độ sâu thí nghiệm:
- Chỉ số vật liệu, \(I_D = (p_1 – p_0) / (p_0-u_0)\) được dùng để nhận diện loại đất;
- Mô đun dilatometer, \(E_D = 34.7 x (p_1 – p_0)\) tính bằng đơn vị at, là đại lượng biểu thị độ cứng của đất;
- Chỉ số ứng suất ngang, \(K_D = (p_1 – p_0)/\sigma’_{v0}\) được dùng để đánh giá lịch sử ứng suất.
Ba chỉ số này thường được biểu diễn theo độ sâu thí nghiệm để xây dựng một mặt cắt thẳng đứng gần như liên tục. Tương tự như các kỹ thuật dùng cho CPT, các giá trị tính trực tiếp này được dùng để ước tính các tham số kỹ thuật quan trọng, bao gồm cường độ, tính nén lún, mô đun biến dạng, và áp lực đất ngang, thông qua các tương quan bán thực nghiệm. Phần tóm tắt các tương quan với kết quả DMT được trình bày trong Chương 8.
2-7.3.2 Ưu điểm và hạn chế
DMT có nhiều ưu điểm. Thí nghiệm có thể được thực hiện tương đối nhanh bằng nhiều loại thiết bị xuyên khác nhau. Bản thân đầu xuyên tương đối đơn giản trong bảo trì, và việc đào tạo vận hành không quá phức tạp. Thí nghiệm này cung cấp một số thông tin về ứng suất ngang và độ cứng của đất, là những thông tin mà SPT và CPT không thể cung cấp trực tiếp.
Một hạn chế lớn của dilatometer là lưỡi thép mỏng, và đặc biệt là màng thép, có thể bị hư hại khá dễ dàng khi xuyên qua đất có hạt cỡ cát thô hoặc lớn hơn. Màng có thể được thay thế, nhưng sau đó phải thực hiện lại quy trình rà màng và hiệu chuẩn, mà việc này thường khó thực hiện ngoài hiện trường. Thiết bị chuyên dụng cần được bảo trì và làm sạch đúng cách giữa các lần thí nghiệm, vì đã từng ghi nhận hiện tượng tín hiệu điện không ổn định khi có điều kiện ẩm ướt bên trong màng. Cần thận trọng khi sử dụng trực tiếp các tương quan của dilatometer cho các tham số phục vụ thiết kế kỹ thuật.
2-7.4 Thí nghiệm xuyên côn động
Tương tự như CPT, thí nghiệm xuyên côn động (DCP) cũng đã trải qua một quá trình phát triển lịch sử. Tại Hoa Kỳ, thiết bị này được phát triển vào cuối những năm 1950 ở khu vực đông nam Hoa Kỳ, chủ yếu để kiểm tra điều kiện gần mặt đất cho spread footing và như một phương pháp thay thế tiềm năng cho SPT. Loại DCP nguyên bản này nặng hơn, có tương quan khá chặt với số búa SPT, nhưng chưa được tiêu chuẩn hóa chính thức. Quân đoàn Công binh Hoa Kỳ (USACE) đã phát triển một DCP nhẹ, có tương quan với giá trị N của SPT và CBR California (California Bearing Ratio) (Webster và cộng sự, 1992). Thiết bị nhẹ này hiện được sử dụng rộng rãi hơn và đã được tiêu chuẩn hóa trong ASTM D6951.
2-7.4.1 Thiết bị, quy trình và kết quả
Sơ đồ của thiết bị DCP trọng lượng nhẹ và chi tiết về mũi côn được trình bày trong Hình 2-12. Một quả búa rơi (nặng 17.4 hoặc 10.1 pound) đập vào đe để đóng mũi côn xuống. Trục trên và trục dưới dẫn hướng cho búa và truyền lực đóng đến mũi côn. Mũi côn có góc đỉnh 60° nằm ở dưới cùng của trục dưới. Có sẵn cả loại mũi côn cố định và mũi côn rời (sử dụng một lần). Có thể cần đến kích rút để lấy mũi côn và trục lên.
Thử nghiệm DCP thông thường được thực hiện bởi hai người. Sau khi đóng mũi côn lún khoảng 1.0 inch để ổn định, mũi côn được tiến sâu dần bằng các nhát búa rơi liên tiếp, trong khi vẫn giữ thiết bị thẳng đứng. Sau mỗi nhát búa, độ xuyên của mũi côn được đo và ghi lại chính xác đến 0.1 inch. Thử nghiệm kết thúc khi:
- Đạt được độ sâu mục tiêu.
- Toàn bộ chiều dài của trục dưới đã cắm sâu vào đất.
- Hoặc khi tổng độ xuyên ít hơn 0.1 inch/nhát búa trong 10 nhát búa liên tiếp.
Sau đó, kích rút được sử dụng để thu hồi trục và mũi côn đang nằm trong đất.
Từ các kết quả thử nghiệm đã ghi lại, Chỉ số Xuyên DCP \((DPI)\) được tính toán và lập bảng theo độ sâu. Một biểu đồ có thể được xây dựng dựa trên các giá trị \(DPI\) tăng dần so với độ sâu xuyên tích lũy, giúp biểu thị độ cứng/cường độ tương đối theo độ sâu. Các mối tương quan với DCP được tìm thấy trong Chương 8.

(theo Webster và cộng sự, 1992)
2-7.4.2 Ưu điểm và hạn chế
DCP là một thiết bị đơn giản, chi phí thấp, dễ sử dụng, rất phù hợp khi cần có kết quả nhanh hoặc với chi phí rất thấp, hoặc khi khả năng tiếp cận hiện trường bị hạn chế. Kết quả của DCP có thể được dùng làm tiêu chí nghiệm thu độ đầm chặt. Thiết bị này cũng có thể dùng để đánh giá địa tầng, đặc biệt trong việc phân định các lớp mềm và lớp cứng. Thiết bị dễ bảo trì. Có lẽ ưu điểm lớn nhất là các tương quan địa phương và khu vực có thể dễ dàng được xây dựng và cập nhật khi cần.
Một hạn chế đáng kể của thí nghiệm là chiều sâu xuyên nhỏ. Độ thẳng đứng của các trục trong quá trình đóng là rất quan trọng, và kinh nghiệm của người vận hành là yếu tố có giá trị. Do sử dụng búa rơi kiểu donut, người vận hành (và người phụ giúp) cần tránh các điểm kẹp tay giữa búa và đe.
2-8 QUAN TRẮC NƯỚC DƯỚI ĐẤT
Do tầm quan trọng của nó trong phân tích địa kỹ thuật, việc xác định vị trí mực nước dưới đất là một yếu tố then chốt của công tác khảo sát nền đất. Trong quá trình khoan, độ sâu thường được ghi nhận tại thời điểm gặp nước lần đầu trong hố khoan và tại thời điểm mực nước ổn định sau khi khoan. Mực nước ổn định thường được ghi nhận sau khi hố khoan được để hở khoảng 24 giờ. Ở một số loại đất, thành hố khoan sẽ bị sập nếu không được chống đỡ hoặc gia cố (ví dụ: cát nằm dưới mực nước ngầm). Trong các trường hợp này, có thể sử dụng ống đục lỗ (perforated pipe) làm ống vách tạm thời để bảo vệ hố khoan khỏi bị sập, đồng thời vẫn cho phép nước chảy qua các lỗ đục. Việc nắm được quy luật dao động mực nước theo mùa là quan trọng, và có thể thực hiện quan trắc dài hạn bằng cách chuyển đổi hố khoan thành thiết bị đo áp lực nước lỗ rỗng (piezometer), có thể là loại giếng quan trắc hở đơn giản cho đến loại đầu đo điện tử (electronic transducers).
Việc nắm được chế độ nước dưới đất tại khu vực là cần thiết để phiên giải chính xác các kết quả quan trắc nước dưới đất, đặc biệt là kết quả từ piezometer. Nước dưới đất có thể tồn tại ở nhiều cao độ khác nhau trong nền đất. Nước có thể ở dạng nước treo (perched) trong các vùng cô lập, hoặc có thể bị giữ áp (confined) giữa các lớp đất có tính thấm thấp. Ngoài ra, dòng chảy nước dưới đất có thể ảnh hưởng đến việc phiên giải mực nước. Ở những nơi có gradient thủy lực thấp và mực nước dưới đất tương đối nằm ngang, độ sâu mực nước có thể được suy ra trực tiếp từ kết quả đo của piezometer. Tuy nhiên, ở những nơi có gradient lớn, áp lực nước đo được tại một điểm trong đất không thể được sử dụng trực tiếp để tính độ sâu cột nước thẳng đứng phía trên điểm đó. Cần nắm rõ điều kiện thấm (seepage conditions) (xem Chương 7-6) để xác định được điều này. Cuối cùng, cần phân biệt giữa điều kiện ổn định (steady state) và điều kiện tức thời/không ổn định (transient). Điều kiện ổn định có thể được quan trắc hiệu quả bằng tất cả các loại piezometer. Tuy nhiên, trong điều kiện không ổn định (ví dụ: hạ nhanh mực nước hồ chứa trong đập, quá trình cố kết hoặc trương nở trong đất hạt mịn), áp lực nước lỗ rỗng có thể thay đổi đáng kể theo thời gian và đòi hỏi thiết bị đo có thời gian phản hồi nhanh, chẳng hạn như đầu đo kiểu màng (diaphragm type transducers).
2-8.1 Các loại piezometer ống đứng (Standpipe Piezometer).
Quan trắc mực nước dưới đất bao gồm việc đo trực tiếp mực nước trong giếng hở (open well), piezometer ống đứng hở (open standpipe piezometer), hoặc piezometer loại phần tử xốp (porous element piezometer). Các loại piezometer ống đứng phổ biến dùng để quan trắc mực nước dưới đất được trình bày trong Hình 2-13 và tóm tắt trong Bảng 2-17. Việc lựa chọn loại ống đứng phụ thuộc vào sở thích của người thực hiện, các quy định hiện hành (nếu có), và loại đất nền nơi cần đo mực nước dưới đất.
Ba thành phần cơ bản của một piezometer ống đứng bao gồm: (1) đầu lọc hoặc lưới lọc giếng (well screen); (2) bản thân ống đứng; và (3) nút bịt ống đứng (standpipe seal). Các thành phần này có thể được lắp đặt bằng tay ở độ sâu nông, nhưng trong hầu hết các trường hợp được lắp đặt bằng giàn khoan sau khi hoàn thành hố khoan trong đất hoặc đá.

2-8.1.1 Piezometer giếng hở
Một kỹ thuật quan trắc nước ngầm thông dụng là lắp đặt một ống đứng hoặc ống kín nước trong một lỗ khoan hở, như minh họa trong Hình 2-13(a). Ống đứng có mũi đục lỗ hoặc đoạn ống lọc cho phép nước đi vào; thường là ống nhựa PVC đường kính nhỏ (ví dụ: nhỏ hơn 2 inch) nhưng có thể lớn hơn đối với các ứng dụng lấy mẫu môi trường. Trong giếng hở, khoảng không vành khăn giữa ống và thành lỗ khoan được lấp bằng cát lọc hoặc sỏi gần tới mặt đất. Tại mặt đất, một lớp trám kín bằng vữa xi măng, huyền phù bentonite, hoặc vật liệu khác có tính thấm thấp được đặt phía trên lớp cát lọc để cách ly giếng khỏi dòng nước bề mặt. Các giếng hở thường còn được gọi là giếng quan trắc nước ngầm và được sử dụng phổ biến trong các ứng dụng môi trường khi cần lấy mẫu nước ngầm.
Bảng 2-17. Các loại piezometer ống đứng
| Loại piezometer | Ưu điểm | Nhược điểm |
|---|---|---|
| Piezometer giếng hở (Open well piezometer) | Đơn giản và đáng tin cậy; có lịch sử sử dụng lâu dài; phù hợp với đất hạt thô; có thể cần đường kính lớn để phục vụ quan trắc môi trường và lấy mẫu nước dưới đất | Thời gian phản hồi chậm, đặc biệt trong đất hạt mịn; không thể quan trắc riêng biệt các tầng có mực nước dưới đất khác nhau; có nguy cơ đóng băng vào mùa đông |
| Piezometer ống đứng hở (Open standpipe piezometer) | Đơn giản và đáng tin cậy; có lịch sử sử dụng lâu dài; có khả năng quan trắc riêng biệt các tầng có mực nước dưới đất khác nhau; phù hợp với đất hạt thô | Thời gian phản hồi chậm trong đất có tính thấm thấp |
| Piezometer phần tử xốp (thủy lực) (Porous element piezometer – hydraulic) | Thời gian phản hồi nhanh; phù hợp với đất có tính thấm trung bình; phù hợp với các ứng dụng bị ảnh hưởng bởi nhiễu điện | Không khí ẩm lọt vào ống dẫn có thể ảnh hưởng đến kết quả đo; tốn thời gian để thực hiện phép đo |
| Piezometer phần tử xốp (điện tử) (Porous element piezometer – electronic) | Phản hồi nhanh; độ nhạy cao; phù hợp cho hệ thống đọc số liệu tự động | Chi phí tương đối cao; có thể cần hiệu chỉnh theo nhiệt độ và áp suất khí quyển; có thể phát sinh sai số trôi điểm không (zero drift) |