View Categories

Phụ lục 5. Vị trí vẽ tính theo xác suất vượt ngưỡng (Threshold-Exceedance Plotting Positions)

Phụ lục này cung cấp phần tổng quan và các phương trình vẽ đồ thị theo xác suất vượt ngưỡng. Bảng 5–1 cung cấp các tham số vẽ đồ thị a và cơ sở lựa chọn chúng. Tham số vẽ đồ thị a = 0, tương ứng với công thức Weibull, được khuyến nghị dùng như giá trị mặc định, phù hợp với thực hành hiện tại. Các tham số vẽ đồ thị khác, bao gồm 0.40 (Cunnane), 0.44 (Gringorten) và 0.50 (Hazen), là các lựa chọn truyền thống cũng có thể được xem xét. Một số ví dụ được trình bày trong phụ lục 10.

Xét một chuỗi số liệu lũ lịch sử với giai đoạn lịch sử (historical period) dài \(n_h\) năm, chuỗi số liệu lũ đo đạc tại trạm trong \(n_s\)​ năm đầy đủ, không bị gián đoạn. Giả sử trong tổng số \(n = (n_s + n_h)\) năm số liệu, có tổng cộng k trận lũ vượt ngưỡng nhận biết đối với lũ lịch sử (hình 3). Nếu k giá trị vượt ngưỡng được đánh chỉ số \(i = 1, \dots, k\), thì các vị trí điểm vẽ hợp lý (reasonable plotting positions) xấp xỉ các xác suất vượt với khoảng (\(0, p_e\)) được xác định như sau:

$$p_i = p_e \left( \frac{1-a}{k+1-2a} \right) = \frac{k}{n} \left( \frac{i-a}{k+1-2a} \right) \tag{5–1}$$

trong đó

a là giá trị lấy từ bảng 5–1

\(p_e = k/n\) là xác suất vượt một ngưỡng.

Với \(k \gg (1 – 2a)\), \(p_i\) không thể phân biệt được so với \(\frac{i-a}{n+1-2a}\) đối với một ngưỡng duy nhất. Hirsch (1987) lưu ý rằng đối với k trận lũ đầu tiên, phương trình (5–1) là giống hệt công thức Hazen với a = 0.5, và rất gần với công thức Gringorten với a = 0.44. Các lựa chọn hợp lý cho a nói chung ít tạo khác biệt đối với các điểm vẽ thu được.

Vị trí vẽ điểm theo xác suất cho các trận lũ trong chuỗi số liệu đo đạc tại trạm nhưng nằm dưới ngưỡng cần được hiệu chỉnh để phản ánh thông tin bổ sung do chuỗi lũ lịch sử cung cấp, nếu dữ liệu lũ lịch sửchuỗi đo đạc tại trạm được phân tích chung một cách nhất quán và hiệu quả thống kê (Hirsch and Stedinger, 1987).

Trong trường hợp này, gọi \(e_s\) là số trận lũ trong chuỗi đo đạc tại trạm vượt ngưỡng và do đó được tính vào k lần vượt ngưỡng. Các vị trí vẽ điểm theo xác suất nằm trong khoảng (\(p_e,1\)) cho (\(n_s – e_s\)) trận lũ còn lại dưới ngưỡng trong chuỗi đo đạc tại trạm là:

$$p_r \;=\; p_e \;+\; (1-p_e)\left(\frac{r-a}{\,n_s – e_s + 1 – 2a\,}\right) \tag{5–2}$$

với r = 1, \(\ldots, n_s – e_s\), trong đó a lại là một giá trị lấy từ bảng 5–1.

Cách tiếp cận này có thể mở rộng trực tiếp cho nhiều ngưỡng. Đối với các trường hợp nhiều ngưỡng vượt minh họa ở hình 12, phương trình 5–1 có thể được tổng quát hóa (Hirsch và Stedinger, 1987; Stedinger and others, 1988, 1993). Số lượng ngưỡng ký hiệu là j (\(j=1,\ldots,m)\), trong đó các ngưỡng \(Q_j\) (\(j=1,\ldots,m\)) được sắp xếp từ lớn đến nhỏ sao cho \(Q_1>Q_2>\cdots>Q_m\). Xác suất vượt \(p_{e j}\) ứng với mỗi ngưỡng j được xác định bởi

$$p_{e j}=p_{e,\,j-1}+\bigl(1-p_{e,\,j-1}\bigr)\,q_{e j} \tag{5–3}$$

trong đó \(q_{e j}\) là xác suất có điều kiện rằng một trận lũ rơi vào khoảng giữa ngưỡng thứ j và ngưỡng thứ (j-1). Nó được cho bởi

$$q_{e j}=\frac{k_j}{\,n_j-\displaystyle\sum_{l=1}^{j-1}k_l\,}. \tag{5–4}$$

trong đó \(k_j\) là số trận lũ vượt ngưỡng thứ j nhưng không vượt bất kỳ ngưỡng cao hơn nào (j−1); và mẫu số trong phương trình (5–4) là số năm \(n_j\) mà ngưỡng Q_j được áp dụng trừ đi tổng số trận lũ \(k_l\) đã vượt các ngưỡng cao hơn (\(j-1, j-2, \ldots\)) trong giai đoạn \(n_j\). Các trận lũ trên ngưỡng có thể được vẽ theo:

$$p_i \;=\; p_{e,\,j-1} \;+\; \bigl(1 – p_{e,\,j-1}\bigr)\, q_{e j}\! \left(\frac{i-a}{\,k_j + 1 – 2a\,}\right) \tag{5–5}$$

và các trận lũ dưới tất cả các ngưỡng (\(k_j+1,\ldots,g\)) có thể được vẽ bằng phương trình (5–2) với \(p_e = p_{e j}\).

Bảng 5–1. Giá trị điển hình của tham số a trong công thức vẽ điểm theo xác suất và lý do lựa chọn
(Stedinger and others, 1993)

Phương phápaLý do lựa chọn
Weibull0Xác suất vượt không chệch cho mọi phân phối
Cunnane0.40Xấp xỉ không chệch theo phân vị
Gringorten0.44Tối ưu cho phân phối Gumbel
Hazen0.50Một lựa chọn truyền thống